Tại sao amiăng trắng (chrysotile) thực sự khác biệt với amiăng thuộc nhóm amphibole? Các vấn đề liên quan đến sức khỏe người lao động

Kết quả khám bệnh và chụp phim của Bệnh viện Xây dựng năm 2008 cho 564 công nhân ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng không phát hiện các tổn thương liên quan đến amiăng chrysotile.

Amiăng (hay còn gọi là asbestos) là tên gọi chung của các loại sợi khoáng silicate, được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ có nghĩa là “không thể bị phá hủy”. Loại sợi này mang nhiều đặc tính ưu việt như cách điện, cách nhiệt, cách âm, chịu ma sát, có độ dai, độ bền cao và chịu được những biến đổi lớn về nhiệt độ. Thời xa xưa, người Hy Lạp cổ đã biết dùng sợi amiăng để dệt vải, nhằm làm tăng độ bền cho sản phẩm. Thời Trung cổ, sợi amiăng được sử dụng để làm nguyên liệu may áo giáp cho các chiến binh. Sau này, nó bắt đầu được ứng dụng trong sản xuất hơn 3000 sản phẩm khác nhau.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều ý kiến cho rằng amiăng là nguyên nhân gây ra các bệnh bụi phổi như u trung biểu mô, xơ cứng màng phổi, hay ung thư phổi. Con số tử vong do các cá nhân và tổ chức ủng hộ chương trình cấm sử dụng amiăng đưa ra lên đến hàng trăm nghìn người mỗi năm. Trong khi đó, nhiều nghiên cứu khoa học và tài liệu lại minh chứng điều ngược lại: Đó là hậu quả của việc sử dụng amiăng nâu và xanh từ những năm trước đây. Amiăng trắng hoàn toàn không gây ra bất cứ rủi ro nào cho sức khỏe con người và cộng đồng, nếu được sử dụng một cách có kiểm soát.

Trên thực tế, có rất nhiều loại sợi amiăng với tên gọi khác nhau nhưng chúng được chia thành hai nhóm chính: Nhóm serpentine (gồm sợi chrysotile hay còn gọi là amiăng trắng) và nhóm amphibole (bao gồm amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, và anthophyllite hay còn gọi chung là amiăng nâu và xanh). Hai nhóm sợi này theo nghiên cứu khoa học thì chúng hoàn toàn khác nhau về tính chất cơ lý, độc tố cũng như khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Amiăng nâu và xanh có thành phần bán tiêu hủy chậm, nên bị coi là nguyên nhân gây ra các bệnh về phổi.

Với cấu tạo dạng xoắn, xốp mềm và thường bị đào thải ra khỏi phổi trong khoảng thời gian từ 0,3 – 11 ngày (thí nghiệm trên động vật được tiến hành nghiêm ngặt (theo quy chuẩn của Liên minh Châu Âu từ năm 2003 đến 2006 tại các nước Brazil, Canada và Mỹ) nên amiăng trắng là loại sợi duy nhất còn được phép sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam. 99% các sản phẩm chứa amiăng hiện nay đều là amiăng trắng và 97% amiăng trắng được phối trộn làm tấm lợp fibro ximăng tại Việt Nam.

Nếu nhìn nhận một cách khách quan, tại Việt Nam chỉ có 4 trường hợp được ghi nhận bị nhiễm bụi phổi amiăng ở thể nhẹ (chiếm 0,4%) trong 1032 phim chụp từ số công nhân trực tiếp tiếp xúc với amiăng chrysotile từ 2 năm đến 28 năm. Kết quả khám bệnh và chụp phim của Bệnh viện Xây dựng năm 2008 cho 564 công nhân ngành sản xuất tấm lợp amiăng ximăng không phát hiện các tổn thương liên quan đến amiăng chrysotile.

Ngày nay, chỉ có sợi amiăng trắng được dùng cho các mục đích thương mại. Việc khai thác và sử dụng amiăng chrysotile cũng hoàn toàn khác với 25 năm về trước. Mức độ tiếp xúc trực tiếp với sợi chrysotile trong sản xuất đã giảm một cách đáng kể trong suốt thập kỷ qua, do những tiến bộ về máy móc và công nghệ. Đặc biệt, Công ước 162 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng đề ra các quy định và các tiêu chuẩn nghiêm ngặt phải thực hiện các biện pháp bảo vệ sức khoẻ người lao động và sức khoẻ cộng đồng – sử dụng sợi một cách có kiểm soát.

Tại Việt Nam, ngành công nghiệp fibrô ximăng đã và đang tích cực triển khai các chương trình đo môi trường lao động và khám bệnh định kỳ, nhằm giảm thiểu những rủi ro về bệnh bụi phổi cho người lao động. Công nghệ máy móc được cải thiện nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm tấm lợp amiăng ximăng. Ngoài ra, việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế đang từng bước được đưa vào thực hiện. Tuy nhiên, cũng cần có sự hỗ trợ và giám sát chặt chẽ từ các cơ quan ban ngành liên quan.

Theo Báo Lao động


Bài mới hơn