Sự độc hại của amiang trắng đang bị thổi phồng quá mức

Những nghiên cứu về bản chất và ảnh hưởng của các nhóm sợi amiang trong nhiều năm đã cho thấy mức độ phóng đại về sự độc hại của amiang trắng.

Amiang trắng là một loại sợi khoáng tự nhiên có dạng xoắn, xốp mềm, sở hữu nhiều tính năng vượt trội và khó có thể thay thế. Một số đặc tính tiêu biểu của amiang trắng như độ bền cơ học và tínhsu-doc đàn hồi cao, chịu ma sát tốt, chống cháy, chịu được môi trường kiềm, cách điện, khó phân huỷ, ngăn cản vi khuẩn và sự tán xạ…Nhờ vậy, amiang trắng đã được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất cho nhiều lĩnh vực khác nhau như ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm amiang trắng xi măng, các vật liệu cách điện, cách nhiệt, ngành oto, hàng không, hạt nhân, vật liệu chống cháy, dệt may…

Su Doc Hai Cua Amiang Trang 2

Tuy nhiên, nhiều nguồn tin hiện nay cho rằng amiang trắng tiềm ẩn những nguy hiểm nhất định cho sức khỏe con người, cần phải được loại bỏ và thay thế bởi những loại sợi tự nhiên hoặc nhân tạo khác. Để mang đến cái nhìn khách quan và trung thực về vấn đề này, các nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã được tiến hành để xác minh có hay không sự độc hại của amiang trắng.

Nghiên cứu của thế giới để xác định có hay không sự nguy hiểm của amiang trắng

Trong đề tài “Đánh giá phản ứng theo liều lượng và sự tồn tại của bụi phanh có chứa chrysotile trong phổi và màng phổi so với TiO2, chrysotile, amiăng crocidolite hoặc amiăng amosite trong nghiên cứu định lượng về độc học hô hấp trong chu kỳ 90 ngày – Kết quả tạm thời” năm 2019, nhà khoa học D.M.Bernstein đã nghiên cứu về độc chất khi hít phải nhiều lần lượng bụi phanh (bụi phanh được làm từ amiăng trắng) ở chuột thí nghiệm trong chu kỳ 90 ngày ở mức độ tiếp xúc là 6 giờ/ngày, 5 ngày/tuần, 13 tuần với 9 nhóm so sánh khác nhau.

Đánh giá lượng tồn của sợi/phân tử amiang trong phổi cho thấy, số lượng trung bình sợi amiăng (có kích thước L > 20 μm)/mẫu phổi lần lượt là 204.000 và 290.000 sợi tại thời điểm 89 ngày đối với các nhóm tiếp xúc với amiang trắng. Tính đến thời điểm 180 ngày, đếm được số lượng trung bình 1 và 3.9 sợi amiăng trên tấm màng lọc tương đương với số lượng 14.000 và 55.000 sợi amiăng (có kích thước L > 20 μm)/mẫu phổi. Điều này có nghĩa tỷ lệ đào thải với amiang trắng rơi vào ~ 70-90%.

Trong xét nghiệm mô bệnh học, amiang trắng cũng được chứng minh có độ bền sinh học thấp, dẫn đến ma trận kết cấu bị làm yếu đi và vỡ thành những sợi ngắn, hạt nhỏ dễ bị đại thực bào phế quản đào thải cũng như tiếp tục hoà tan. Vì vậy, xét nghiệm không có hiện tượng viêm tiểu phế quản và xuất hiện rất ít hiện tượng xơ hoá kẽ thể rất nhẹ.

Trước đó, nghiên cứu của Tiến sĩ Jques Dunnigan (Canada) (2014) cũng đã tiến hành đề tài: “Những nghiên cứu dịch tễ học và độc học về các loại sợi amiăng trắng và rủi ro khi tiếp xúc”. Kết quả cho thấy amiăng trắng an toàn hơn so với amiăng nâu và xanh, và nếu được sử dụng có kiểm soát, amiang trắng sẽ giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và người sử dụng.

Vì amiang trắng được sử dụng rất nhiều trong sản xuất tấm lợp fibro xi măng, các nghiên cứu về nồng độ sợi amiăng trong không khí ở Úc, Đức, Áo cũng đã được thực hiện tại các khu vực có nhiều mái lợp bằng tấm lợp amiăng xi măng. Theo đó, các kết quả đều cho rằng nồng độ amiăng không có sự khác biệt với nồng độ amiăng vốn có trong tự nhiên là 0,001 sợi/cc – mức được WHO, Ủy ban amiăng Hoàng gia Ontario và Hội Hoàng gia London đánh giá lần lượt là “có thể chấp nhận được”, “không đáng kể” và “… không có cơ sở để kiểm soát thêm”.

“Amiang trắng ảnh hưởng đến sức khỏe con người” không? – Góc nhìn từ nghiên cứu trong nước

Để đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của sợi amiang trắng, Trung tâm Y tế Xây dựng (nay là Bệnh viện Xây dựng) đã tiến hành nghiên cứu trên đối tượng là các người lao động. Đề tài “Nghiên cứu tình hình bệnh bụi phổi amiăng và ung thư nghề nghiệp ở các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng – xi măng” – đề tài nhánh của đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng xi măng và những ảnh hưởng của amiăng đối với sức khỏe con người – Kiến nghị các giải pháp” do Đại học Xây dựng chủ trì đã cho thấy những kết quả tích cực. Nghiên cứu không phát hiện trường hợp nào có các bệnh ác tính như ung thư phổi phế quản và ung thư trung biểu mô trong số công nhân đã khám. Bên cạnh đó, hồi cứu hồ sơ các trường hợp ung thư biểu mô đã chẩn đoán ở Bệnh viện K- Hà Nội và Bệnh viện Ung bướu Phạm Ngọc Thạch – TP. Hồ Chí Minh từ năm 1991-2001 cũng cho thấy không đủ căn cứ kết luận có trường hợp nào liên quan đến sản xuất tấm lợp fibro xi măng ở Việt Nam.

Su Doc Hai Cua Amiang Trang

Năm 2009 – 2011, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng ở những người tiếp xúc” do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, thông qua Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tài trợ cho Cục quản lý Môi trường Y tế – Bộ Y tế cũng cho thấy: Chỉ có 39 mẫu bệnh phẩm (trong số 447 trường hợp mắc các bệnh liên quan đến amiăng như bệnh ung thư phổi, mảng dày màng phổi và ung thư trung biểu mô) sau sàng lọc được gửi sang Bệnh viện Hiroshima, Nhật Bản để chẩn đoán. Các chuyên gia Nhật Bản cuối cùng đã xác định có 08 trường hợp thực bệnh, tuy nhiên không có trường hợp nào có tiền sử rõ ràng tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng.

Sử dụng an toàn amiang trắng để không ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Để sử dụng amiang trắng an toàn cũng như hướng tới bảo vệ sức khỏe cộng đồng và gìn giữ môi trường, ngày nay, chỉ có các sản phẩm chứa amiăng trắng ở hàm lượng cao mới được phép sản xuất. Hơn 90% lượng sợi amiăng trắng trên thế giới hiện nay được sử dụng trong việc sản xuất các vật liệu xây dựng chứa hỗn hợp amiăng trắng – xi măng.

Việc sản xuất tấm fibro xi-măng (Tấm lợp amiang) và ống nước fibro ximăng chỉ chứa một lượng rất nhỏ sợi amiăng trắng (từ 8 – 10%), còn lại chiếm khoảng 90% là xi măng. Các sợi amiăng trắng có cấu trúc rỗng, được gắn kết rất chặt chẽ với hạt xi măng trong suốt quá trình sản xuất nên khó có thể bị phân tán ra môi trường bên ngoài. Hơn nữa, các nhà máy hiện nay đều sử dụng công nghệ ướt và khép kín nên hạn chế tối đa việc phát tán bụi ra ngoài môi trường. Do đó, các rủi ro về về sức khỏe cộng đồng và môi trường cũng được giảm thiểu.

Ngoài ra, mỗi quốc gia cũng đều có các quy định về nồng độ bụi sợi trong không khí và môi trường lao động. Tại Việt Nam, 0,1 sợi/ml khi tính trung bình 8 giờ và không vượt quá 0,5 sợi/ml tính trung bình 1 giờ là mức quy định đối với nồng độ bụi sợi amiang trắng trong không khó tại nơi làm việc. Đây là mức tương đối nghiêm ngặt so với nhiều quốc khác trên thế giới và trong khu vực Đông Nam Á.

Tạm kết

Có rất nhiều các chiến dịch truyền thông kêu gọi sự ủng hộ cho việc cấm sử dụng amiăng trắng trên toàn thế giới bất chấp cơ sở nghiên cứu khoa học. Thực tế, mục tiêu của chiến dịch này xuất phát từ những lý do như cạnh tranh thương mại nhằm thay thế thị phần sợi amiăng bằng sợi PVA hoặc thay thế thị phần tấm fibro xi măng tại Việt Nam bằng tấm tôn hoặc tấm chứa cốt sợi PVA. Ngoài ra, các hoạt động chống amiăng như phí luật sư, phần trăm tiền bồi thường cho nạn nhân khi tham gia các vụ kiện tụng… cũng đã và đang mang lại nhiều nguồn lợi cho nhiều tổ chức và cá nhân trên toàn thế giới.


Bài mới hơn