Sự an toàn của tấm lợp amiang khi nhìn từ góc độ khoa học

Với hơn 100 năm sử dụng, tấm lợp amiang đã trở thành vật liệu phổ biến trong xây dựng tại nhiều quốc gia. Từ góc độ khoa học, sản phẩm vẫn đang cho thấy sự an toàn trong sử dụng.

Vào năm 1899, Ludwig Hatschek (Áo) đã phát minh ra quy trình chế tạo xi măng amiang và được cấp bằng sáng chế tại Mỹ vào năm 1901. Nhờ có việc sáng tạo ra công nghệ sản xuất tấm lợp xi măng amiang, ngành khai thác, sử dụng và buôn bán amiang đã phát triển mạnh. Theo số liệu của U.S. Geological Survey (USGS), từ năm 1900 đến 2003, toàn thế giới đã sử dụng 181 triệu tấn amiang.

Tại Việt Nam, tấm lợp amiang (hay còn gọi là fibro xi măng) được sản xuất từ năm 1963 với 02 nhà máy là Tấm lợp Đồng Nai và Nhà máy tấm lợp Navifico tại Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay, toàn ngành đã phát triển với khoảng 20 nhà máy trên cả nước. Công nghệ được các doanh nghiệp Việt sử dụng là công nghệ xeo ướt mang tên Hatschek. Trong công nghệ này, các tấm phibro xi măng được xeo từ bể dung dịch huyền phù có hàm lượng chất rắn khoảng 15-17%. Công nghệ “ướt” có ưu điểm nổi bật là tạo được sự đồng nhất cho dung dịch huyền phù trong môi trường nước. Đây là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm. Công nghệ hiện nay khép kín, nước sản xuất tuần hoàn, chất thải rắn được tái sử dụng, hoàn toàn có thể kiểm soát được ô nhiễm môi trường.

Dcim100mediadji 0066.jpg

Tấm lợp amiang hiện là một sản phẩm phổ biến trong xây dựng nhà ở tại nước ta. Sản phẩm cũng được bà con ứng dụng trong làm chuồng trại, kho bãi, dựng hàng rào… do có giá thành phải chăng, phù hợp với thu nhập của đại đa số người tiêu dùng. Bên cạnh những nhu cầu sử dụng thông thường, tấm lợp amiang còn được huy động trong các chương trình xóa đói giảm nghèo hay khắc phục hậu quả sau thiên tai bão lũ cho người dân.

Tấm lợp amiang có độc không?

Những năm qua, tranh cãi “có nên sử dụng tấm lợp amiang không” vẫn tiếp diễn sôi nổi tại các diễn đàn trong và ngoài nước. Mặc dù một số tổ chức cho rằng tấm lợp amiang gây ung thư nhưng cho đến nay, các nghiên cứu quốc tế và tại Việt Nam vẫn chưa tìm ra các trường hợp bệnh ác tính liên quan đến sử dụng sợi amiang trắng cũng như tấm lợp amiang.

Liên bang Nga là nước sản xuất amiang nhiều nhất thế giới với hơn 50% thể tích vật liệu lợp là xi măng amiang. Ngay cạnh mỏ amiang lớn nhất của Nga là thành phố Uralasbest với khoảng 66.000 nghìn người đang sinh sống. Nga đã tiến hành các nghiên cứu về tác động của amiang đến sức khỏe con người từ rất sớm. Tới nay, hàng trăm nghiên cứu về đề tài này đều không phát hiện những bằng chứng bệnh tật liên quan đến amiang trắng.

Năm 2002, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã bổ sung vào báo cáo năm 1996 về amiang trong nước uống: “Những nghiên cứu dịch tễ học hiện tại không đưa ra bằng chứng về việc gia tăng rủi ro đến sức khoẻ con người liên quan đến amiăng trong nước uống. Hơn nữa, trong các nghiên cứu được thực hiện trên động vật cho thấy amiăng không làm tăng nguy cơ về ung thư đường tiêu hoá. Do đó, không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy uống nước có sợi amiăng là nguy hiểm cho sức khoẻ con người. Vì vậy, không cần thiết phải lập ra một hướng dẫn an toàn về amiăng trong nước uống”. Nhận định này cũng đã mang đến sự yên tâm cho công chúng trong vấn đề uống nước từ tấm lợp amiang.

Trong nước, các tổ chức uy tín như Bộ Y tế, Bệnh viện Xây dựng… cũng đã tiến hành các nghiên cứu trên công nhân ngành tấm lợp amiang và người sử dụng loại vật liệu này. Các kết quả đều khẳng định chưa tìm thấy các trường hợp bệnh ác tính liên quan đến sợi amiang trắng.

Sự an toàn trong sản xuất tấm lợp amiang

Tam Lop Amiang 1

Với sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại, dây chuyền sản xuất của ngành ngày càng được cải tiến. Hiện nay, các nhà máy đã đầu tư dây chuyền khép kín và tự động hóa để vừa đẩy mạnh hiệu quả vừa giảm thiểu sự tiếp xúc của người lao động với quá trình sản xuất. Một số nhà máy còn lắp đặt các phòng điều khiển tự động và thiết bị giám sát trực tiếp cho người lao động. Ngoài ra, việc xử lý nước thải cũng được lưu tâm với hệ thống xử lý nước tuần hoàn. Các chất thải khác cũng được xử lý theo đúng quy định để đảm bảo vệ sinh môi trường.

Theo quy định của pháp luật, các nhà máy cũng bắt buộc phải duy trì nồng độ bụi sợi ở ngưỡng an toàn là 0,1 sợi/ml không khí tính trung bình 8 giờ và không vượt quá 0,5 sợi/ml không khí tính trung bình 1 giờ. Quy định này cũng tương đương với tiêu chuẩn của Mỹ.

Chất lượng sản phẩm cũng là một yếu tố được đặc biệt chú trọng. Một sản phẩm tốt với độ bền ưu việt sẽ không chỉ giúp ích cho quá trình sử dụng, tiết kiệm chi phí mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Thực tế, công nghệ hiện đại ngày nay đang giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và đa dạng hóa mẫu mã để đáp ứng tốt hơn nhu cầu sử dụng của người tiêu dùng. Các sản phẩm mới của ngành như tấm lợp amiang màu, tấm tường bê tông nhẹ… chất lượng cao đã được triển khai áp dụng tại các công trình dân sinh trên cả nước.


Bài mới hơn