Phơi nhiễm môi trường với amiăng: Đánh giá các rủi ro và ảnh hưởng tới sức khỏe

Nghiên cứu này được thực hiện bởi Giáo sư Tiến sĩ Mário Tera Filho – INCOR-HC-FMUSP tại Sao Paulo – Tháng 3, 2011 về Phơi nhiễm môi trường với amiăng trong những ngôi nhà được lợp bằng ngói amiăng xi măng ở những trung tâm đô thị lớn cho đến nay vẫn chưa được đặc tính hóa tại Bra-xin đồng thời nhằm định tính tiềm năng phơi nhiễm môi trường trong nhà với amiăng tại năm thành phố chính của Bra-xin và các tác động có thể đối với hệ thống hô hấp.

Tổng cộng 2.075 công nhân khai thác amiăng đã được đánh giá, và 405 cá nhân được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu theo dõi theo thời gian bằng chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao (HRCT). Kết quả của đánh giá tiêu biểu một thời điểm bằng chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao (n = 1427) được thể hiện như sau: i) Sự xuất hiện của bệnh màng phổi (PI) hay bệnh nhu mô (Asb) so sánh với phơi nhiễm với amiăng cao hơn đáng kể với những nhóm phơi nhiễm amiăng từ năm 1940 đến 1966 và trong nhóm phơi nhiễm giai đoạn 1966 đến 1977, nhưng thấp hơn đáng kể ở những cá thể phơi nhiễm từ năm 1977, đặc biệt là sau năm 1980. Sự giảm trong sự xuất hiện của bệnh màng phổi (Pl) và nhu mô (Asb) có thể do sự giảm của phơi nhiễm lũy tích với amiăng. ii) Hai trong số bốn trường hợp với mảng xơ cứng màng phổi nhận diện được trong nhóm phơi nhiễm sau năm 1980 đã phơi nhiễm với ngành công nghiệp xi măng amiăng trước năm 1980. iii) Các triệu chứng có thể của ung thư phổi được xem xét trong 15 trường hợp. Trong 8 trường hợp (6 trường hợp từ nghiên cứu này và 2 trường hợp từ Dự án I), các triệu chứng đã được xác nhận, trong khi các triệu chứng được xem là có tồn tại trong 7 trường hợp còn lại. Do các thông tin không đầy đủ, liên hệ nhân quả với phơi nhiễm nghề nghiệp, dù được xem xét, nhưng không thể xác minh với toàn bộ các cá thể. Trong đánh giá theo thời gian, các bệnh nhân từng phát triển các bất thường kẽ tương hợp với bệnh bụi phổi và xơ cứng màng phổi có phơi nhiễm lũy tích cao hơn và có khuynh hướng có tuổi cao hơn với thời gian phơi nhiễm dài hơn so với nhóm phụ có các chỉ số ổn định. Có sự suy giảm chức năng đáng kể được nhận biết ở các cá thể – những người đã phát triển thay đổi kẽ tương hợp với bệnh bụi phổi. Hai trường hợp mới của xơ cứng màng phổi không được ghi nhận với các cá thể phơi nhiễm sau năm 1977, trong khi 4 trong số họ không có sự thay đổi khi chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao ở nghiên cứu trước đó. Không trường hợp nào của thay đổi tương hợp với bệnh bụi phổi được xác định trong nhóm này. Thêm vào đó, không có thay đổi thêm hay phát triển nào của đánh dấu màng phổi hoặc kẽ được xác định trong các cá thể của các nhóm phơi nhiễm sau 1980, những người được đệ trình để chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao trong cả hai nghiên cứu. Giả sử chụp cắt lớp vi tính có độ phân giải cao là phương pháp tham khảo, Chụp X-Quang ngực (CXR) thể hiện tỷ lệ dương tính giả cao đối với bệnh bụi phổi và tỷ lệ âm tính giả đối với xơ cứng màng phổi trong cả đánh giá ngang và đánh giá theo thời gian của các trường hợp được coi là bất thường ở Dự án I.

Download Attachments


Bài mới hơn