abc


Amiăng (hay còn gọi là asbestos) là tên gọi chung của loại sợi khoáng silicate, được bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp cổ có nghĩa là “không thể bị phá hủy”. Trên thực tế sợi amiăng được chia thành hai nhóm chính là nhóm amphibole và nhóm serpentine. Mặc dù có cùng chung tên thương mại là amiăng, nhưng amiăng amphibole (amiăng nâu, xanh) và amiăng chrysotile (amiăng trắng) là hai nhóm sợi khoáng khác nhau hoàn toàn về thành phần hóa học, màu sắc, tính chất cơ lý, ứng dụng và mức độ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người.

Với những đặc tính ưu việt như bền, dai, chịu nhiệt, amiăng đã từng được người La Mã sử dụng để làm vải, bấc đèn. Người Hy Lạp cổ cũng dệt sợi amiăng vào vải nhằm làm tăng độ bền cho sản phẩm. Đến thời kỳ Trung cổ, người ta đã biết cách dùng amiăng làm nguyên liệu may áo giáp cho các chiến binh. Một thời gian dài sau đó, người Mỹ bắt đầu sử dụng amiăng làm vật liệu cách nhiệt cho nồi hơi, lò đốt, ống dẫn máy hơi nước, lò đun hay là đường ống hơi nước. Đặc biệt, amiăng đã được sử dụng rất nhiều trong ngành công nghiệp đóng tàu thời kỳ Chiến tranh Thế giới thứ II. Các ứng dụng tiên tiến của amiăng được phục vụ cho sản xuất các sản phẩm fibrô xi măng như ống nước, tấm lợp, ngói dùng trong xây dựng.

Do có khả năng thâm nhập vào cơ thể và gây ra các tổn thương nghiêm trọng về phổi sau 10 – 20 năm ủ bệnh nên nhóm sợi amiăng amphibole (amiăng nâu và xanh) đã bị cấm sử dụng dưới mọi hình thức ở nhiều quốc gia trên thế giới kể từ những năm 1980. Trong khi đó, nhóm sợi amiăng serpentine (sợi chrysotile hay còn gọi là amiăng trắng) vẫn đang được sử dụng một cách an toàn và có kiểm soát. Các nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế đến nay chưa tìm thấy bằng chứng bệnh tật do phơi nhiễm amiăng trắng gây ra.

Hiện nay, amiăng trắng vẫn đang được khai thác tại Brazil, Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Zimbabwe, Ấn Độ trong khi các mỏ amiăng nâu và xanh nằm phần lớn ở Nam Phi và Úc đã bị đóng cửa vào cuối thế kỷ 20.

Châu Á hiện là thị trường tiêu thụ amiăng trắng lớn nhất thế giới, đứng đầu là Trung Quốc, tiếp theo là Ấn Độ, Thái Lan. Tại các quốc gia đang tăng trưởng mạnh mẽ này, amiăng trắng đóng một vai trò quan trọng không thể thiếu trong ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, sản phẩm chống ma sát, sản phẩm dệt may. Vật liệu xây dựng làm từ amiăng trắng là lựa chọn chủ yếu cho tầng lớp thu nhập thấp bởi chi phí rẻ và có các tính năng ưu việt phù hợp với điều kiện kinh tế và môi trường. Tòa án Tối cao Ấn Độ vào tháng 01/2011 đã bác bỏ yêu cầu của các Tổ chức Phi chính phủ trong việc cấm sử dụng các loại amiăng. Các nước Singapore, Đài Loan, Mông Cổ đã từng cấm amiăng trắng, nhưng sau đó đã rút lại lệnh cấm từ năm 2010 và 2011.

Châu Âu gắn với câu chuyện về amiăng bằng lịch sử sử dụng amiăng nâu và xanh không có kiểm soát dẫn đến một tỷ lệ lớn người lao động tiếp xúc với loại sợi này đã mắc các bệnh về đường hô hấp như u trung biểu mô, ung thư phổi. Năm 1999, Ủy ban Châu Âu đã ban bố lệnh cấm sử dụng amiăng trong mọi lĩnh vực đời sống đến các nước thành viên.

Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) như Nga, Kazakhstan, v.v…là các nước có mỏ amiăng trắng với trữ lượng lớn nhất thế giới. Tại Nga, do chỉ khai thác và sử dụng amiăng trắng nên mặc dù thành phố Asbest nằm ngay bên cạnh khu mỏ dài 8km và rộng 2km với hơn 68.000 người dân đang sinh sống và làm việc ổn định, nhưng những biểu hiện mắc các bệnh về phổi hầu như không có. Cho đến nay, ngành công nghiệp amiăng trắng tại Nga này đã có hơn 125 năm kinh nghiệm, chiếm 80% nguồn lực kinh tế quốc gia, chiếm 50% sản lượng chrysotile trên toàn cầu và sử dụng 500.000 người lao động.

Tại khu vực Châu Mỹ La tinh, ngoài một số nhỏ các quốc gia đã đưa ra lệnh cấm tất cả các loại amiăng, đa số các quốc gia còn lại như Brazil, Mexico, Cuba, v.v…amiăng trắng vẫn đóng vai trò quan trọng trong một số ngành công nghiệp.

Hai quốc gia vùng Bắc Âu là Mỹ và Canada, sau một thời gian dài tranh cãi vẫn tiếp tục cho sử dụng amiăng trắng trong sản xuất các sản phẩm. Đặc biệt nước Mỹ cấm amiăng từ những năm 1980 theo đề xuất của EPA, nhưng đến năm 1991, Tòa thượng thẩm Hoa Kỳ đã hủy bỏ lệnh cấm và lệnh loại bỏ dần dần amiăng vì các nghiên cứu tại Mỹ cho thấy việc sử dụng amiăng trắng có kiểm soát không gây ra bất cứ dấu hiệu bệnh tật nào tới sức khỏe con người; đặc biệt các chất được sử dụng thay thế amiăng trắng lại có chi phí cao, hiệu quả sử dụng thấp và những rủi ro tiềm ẩn đối với sức khỏe con người lại chưa được nghiên cứu.


Những loại sợi khoáng có chung tên thương mại là amiang từ lâu đã được giới khoa học phân chia thành hai nhóm chính là serpentineamphibole do sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc sợi cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe con người.

Amiang nhóm serpentine

Nhóm serpentine chỉ gồm duy nhất sợi chrysotile (hay còn gọi là amiang trắng) với dạng xoắn, xốp mềm và đang được sử dụng phổ biến trong nhiều ngành công nghiệp lớn trên thế giới.

Sợi amiang trắng với cấu tạo hoá học: Mg3[Si2O5](OH)4, mã số đăng ký CAS 12001 – 29 – 5, có nguồn gốc từ đá serpentine, được thiên nhiên phân bố rải rác trên khắp thế giới. Đây là nhóm sợi khoáng duy nhất còn được phép nhập khẩu và sử dụng tại nhiều quốc gia. Với những tính năng ưu việt vượt trội – không thể thay thế được bởi bất cứ loại sợi tự nhiên hay sợi nhân tạo nào – như độ bền cơ học và tính đàn hồi cao, chịu ma sát tốt, chống cháy, chịu được môi trường kiềm, cách điện, khó phân hủy, ngăn cản vi khuẩn và sự tán xạ…amiang trắng được coi là loại nguyên liệu xây dựng đầu vào hữu ích. Loại sợi kỳ diệu này được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm amiang xi măng (đặc biệt là tấm lợp sóng amiang xi măng tại các nước đang phát triển), vật liệu cách điện, cách nhiệt, ngành ôtô, ngành hàng không, dược, dầu mỏ và hạt nhân, sản xuất vật liệu chống cháy, sản phẩm dệt may và một số ngành khác.

Ngày nay, chỉ có chrysotile là sợi amiang duy nhất được phép xuất khẩu. 99% các sản phẩm chứa amiang hiện nay đều là amiang trắng, loại sợi không gây ra cái rủi ro về sức khỏe cho con người khi phơi nhiễm với một lượng nhỏ trong thời gian ngắn hoặc trong các điều kiện đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh lao động.

Amiang La Gi

 

Amiăng nhóm amphibole

Các loại sợi amiang có tên gọi khác đều thuộc nhóm amphibole (hay còn gọi là amiang nâu và xanh) bao gồm amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, và anthophyllite với đặc điểm dạng thẳng, nhám, hình kim.

Các sợi thuộc nhóm amphibole (amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, and anthophyllite) đi qua đường hô hấp vào phổi sẽ nằm lại đó, không bị phân hủy dẫn đến kích thích việc hình thành các u, bướu, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người. Do thành phần hóa học và cấu tạo dạng thẳng, nhám, hình kim, chu kỳ bán tiêu hủy chậm, nên các sợi thuộc nhóm amphibole được cho là nguyên nhân gây ra ung thư phổi và ung thư trung biểu mô.

Amiang La Gi 1

Vì sao cần nhìn nhận sự khác biệt giữa amiang trắng và amiang màu?

Mặc dù các loại sợi khoáng silicat đều được gọi là amiang nhưng trên thực tế, chúng được chia thành hai nhóm riêng biệt là serpentine và amphibole. Ngoại trừ việc có cùng tên thương mại, tồn tại ở dạng tự nhiên là sợi và một số tính năng ưu việt, hai nhóm sợi này hoàn toàn khác nhau về cấu trúc hóa học và đặc biệt là những ảnh hưởng tiêu cực tiềm tàng đến sức khỏe con người. Đây cũng là kết luận của các nhà khoa học trong báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2004. Ngày nay, các loại amiang nâu và xanh đã bị cấm trên toàn thế giới, trong khi đó chỉ có amiăng trắng được phép khai thác cũng như sử dụng trong các sản phẩm công nghiệp, dân dụng.

Trong quá khứ, việc sử dụng amiang không đúng cách như phun, xịt, cùng công nghệ lạc hậu và điều kiện làm việc tồi tệ đã dẫn đến rất nhiều trường hợp bị ung thư phổi hoặc ung thư trung biểu mô. Tuy nhiên, từ những năm 1980 trở lại đây, việc khai thác và sử dụng amiang trắng đã hướng tới các quy trình sử dụng an toàn. Các công nghệ ướt, khép kín và tự động hóa dần được áp dụng để giảm thiểu những rủi ro phát tán bụi ra bên ngoài môi trường, gây nên ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe con người. “Chương trình sử dụng amiang trắng an toàn – Safe Use” cũng cung cấp các phần mềm đo lường rủi ro tai nạn, bộ tài liệu hướng dẫn biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bụi trong quy trình sản xuất có sử dụng amiang trắng, các chương trình đào tạo, giám sát sức khỏe cộng đồng.

Bên cạnh đó, các sản phẩm có chứa amiang ngày nay đã hoàn toàn khác xa so với những thành phẩm thường sử dụng nhóm sợi amphibole (amiang nâu và xanh) trong quá khứ, hoặc những vật liệu cách nhiệt có hàm lượng amiang chrysotile thấp, dễ phát sinh bụi và vỡ vụn dưới tác động của lực tay.

TRƯỚC ĐÂY

NGÀY NAY

 

 

SẢN PHẨM

Amiăng – xi măng

Vật liệu chống ma sát

Vật liệu cách nhiệt

Sản phẩm dệt may

Chứa hàm lượng amiăng thấp

Chrysotile – xi măng

Vật liệu chống ma sát

Chứa hàm lượng chrysotile cao

 

LOẠI SỢI

Chrysotile

Amosite

Crocidolite

Chrysotile (amiăng trắng)

Bảng 1: Sử dụng amiang trắng trong quá khứ và hiện tại.

Ngày nay, chúng ta chỉ sản xuất và buôn bán các vật liệu có hàm lượng lớn amiang chrysotile, không dễ vỡ vụn và được gắn kết kết chặt chẽ với xi măng hoặc nhựa tổng hợp như tấm lợp, ống nước và bể nước fibrô xi măng, vật liệu chống ma sát, miếng đệm và chất dẻo…


Người ta tìm thấy amiăng ở đâu?

Amiăng là loại sợi khoáng tự nhiên được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất từ thời La Mã cổ. Loại sợi đặc biệt này được tìm thấy tại nhiều nơi trên thế giới như châu Phi, Úc, Canada, Brazil, Nga, Kazakhstan, Mỹ và Trung Quốc, Ấn Độ…

Thông thường, amiăng tồn tại trong các loại đá như đá serpentine, đá mafic, đá siêu mafic, đá đôlômít biến dạng, chất xâm nhập kiềm và carbonate. Thành phần cơ bản của amiăng là nhóm silicat được tạo ra từ oxygen và silicon. Ở dạng tự nhiên, amiăng nằm sâu trong các lớp đất đá. Trên thực tế, người ta tìm thấy amiăng trong số hai phần ba lượng đá trên toàn thế giới. Các sợi amiăng thường bị phát tán bởi sự xói mòn của đất và gió. Vì vậy, tùy thuộc vào nơi bạn sống mà một ngày bạn có thể hít vào cơ thể nhiều nhất từ 10,000 đến 15,000 sợi amiăng.

Khai thác amiăng

Amiăng là sợi tự nhiên nằm lẫn trong các lớp đất đá. Để khai thác amiăng, người ta thường làm vỡ các khối đá, sau đó nghiền nhỏ chúng thành các mảnh vụn và sàng, hút để tách lấy sợi.


Tất cả các mỏ amphibole (amiăng nâu và xanh) nằm phần lớn ở Nam Phi và Úc đã bị đóng cửa vào cuối thế kỷ 20 do chúng là tác nhân gây ra các bệnh ung thư trung biểu mô và ung thư phổi.

Tại Mỹ, amiăng được tìm thấy ở 20 bang trong đó quá trình khai thác diễn ra tại 17 bang bao gồm khu vực Appalachian, California và Oregon. Giai đoạn cuối những năm 1960 đầu những năm 1970 được coi là thời kỳ phát triển cực thịnh khi hơn 103 nghìn tấn amiăng (cả sợi nâu, xanh, trắng) được sử dụng trong các ngành công nghiệp mỗi năm. Đến năm 1987, việc sử dụng amiăng giảm mạnh xuống còn khoảng 55 nghìn tấn một năm do lệnh cấm sử dụng amiăng nâu và xanh đã bắt đầu được thực thi tại nhiều nước phát triển.

Nga là quốc gia khai thác amiăng trắng lớn nhất trên thế giới. Tính đến nay, thành phố Asbest – tỉnh Yekaterinburg – Cộng hòa Liên bang Nga đã có 125 năm tuổi với mỏ amiăng trắng có thể khai thác đủ trữ lượng cho 150 năm. Hàm lượng amiăng trắng trong đá là 2,3% với chiều dài công trường khai thác là 11,5 km, rộng 1,8 km và sâu 340m. Tại thành phố, 68.000 người dân đang sinh sống ổn định và tỷ lệ tử vong luôn nằm ở ngưỡng trung bình hoặc thấp hơn so với những khu vực khác. Nhiều gia đình công nhân tại thành phố này có đến 3 thế hệ làm việc tại mỏ amiăng trắng nhưng không hề có dấu hiệu bị ung thư hay mắc các bệnh hô hấp do phơi nhiễm với amiăng. Khái niệm sử dụng amiăng trắng an toàn được đưa vào áp dụng tại các nhà máy khai thác chế biến sợi và nhà máy sản xuất các sản phẩm fibro xi măng có chứa amiăng trắng từ hơn 87 năm qua. Theo đó, toàn bộ dây chuyền sản xuất được tự động hóa và khép kín, công nhân phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc bảo hộ lao động. Ngoài việc được trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động, công nhân ở đây còn được kiểm tra theo dõi sức khỏe thường xuyên nhằm phát hiện các triệu chứng của bệnh nếu có.

Brazil là quốc gia sản xuất amiăng trắng đứng thứ ba trên thế giới sau Nga, Trung Quốc và cũng là một trong số các quốc gia tiêu thụ amiăng trắng hàng đầu thế giới. Các mỏ Cana Brava thuộc công ty SAMA S.A nằm tại Minau với tổng diện tích kéo dài 45km. Trong hơn 50 năm được đưa vào khai thác, các mỏ amiăng trắng (bao gồm mỏ Cana Brava A dài 1.525m * rộng 679m * sâu 228m và mỏ Cana Brava B dài 1.111m * rộng 855m * sâu 238m) là nhân tố quan trọng giúp Minaçu trở thành một trong những thành phố giàu có nhất bang Goiás. Hàng năm, mỏ cung cấp khoảng 300.000 tấn amiăng trắng, chiếm 10% thị phần sợi amiăng trắng trên toàn thế giới. 54% sản lượng sợi amiăng trắng khai thác tại mỏ được sử dụng nội địa để làm ra các sản phẩm fibro xi măng, đặc biệt là tấm lợp có chứa amiăng, 46% xuất khẩu đi hơn 20 nước trên thế giới như Srilanka, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Mexico, Colombia và United Arab Emirates…Một trong những chương trình quan trọng được triển khai hơn 30 năm qua của Brazil là “Chương trình sử dụng amiăng trắng an toàn – Safe Use” bao gồm phần mềm Super đo lường các rủi ro tai nạn, bộ tài liệu hướng dẫn biện pháp phòng ngừa và kiểm soát bụi trong các quy trình sản xuất có sử dụng amiăng trắng, các chương trình đào tạo, giám sát sức khỏe y tế. Chương trình được đánh giá như là tiêu chuẩn của sự phát triển bền vững và là tài liệu tham chiếu cho nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng trên toàn thế giới.

Ngoài ra, sản lượng khai thác amiăng trắng tại Trung Quốc và Kazakhstan cũng chiếm một con số đáng kể. Tại Ấn Độ, người ta vẫn khai thác amiăng tremolite với số lượng nhỏ. Đối với nhiều quốc gia đang phát triển thì sợi amiăng trắng được nhập khẩu là nguyên liệu đầu vào thiết yếu cho việc sản xuất vật liệu xây dựng như sản phẩm tấm lợp, vách ngăn, ống nước, tấm amiăng xi măng…

Bản đồ phân bố Amiăng trên thế giới

where



Amiăng là tên thương mại dùng chung cho các loại sợi khoáng. Tuy nhiên trên thực tế, amiăng được chia thành hai nhóm chính gồm amphibole (sợi amiăng nâu, xanh) và nhóm serpentine (sợi amiang trắng).

Các loại sợi amiăng amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, và anthophyllite đều thuộc nhóm amphibole với cấu tạo dạng thẳng, nhám, hình kim và chu kỳ bán tiêu hủy chậm. Đặc biệt, khi xâm nhập được vào phổi, chúng sẽ gây nên các khối u, triệu chứng viêm mà sau 10 – 20 năm ủ bệnh, sẽ phát tác thành ung thư và các bệnh về phổi.

Nhóm serpentine hay còn được gọi là chrysotile (amiăng trắng), có dạng xoắn, xốp mềm, là loại sợi được sử dụng nhiều nhất trong các ngành công nghiệp ngày nay. Chúng được xếp vào nhóm các chất có độ bền sinh học thấp hơn nhiều so với sợi len thủy tinh và len đá. Theo các nghiên cứu khoa học, sợi amiăng trắng sẽ bị đào thải ra khỏi phổi trong vòng từ 0,3 – 11 ngày hoặc bị phân hủy bởi môi trường axit do các đại thực bào tạo ra.

Amiăng trắng có ảnh hưởng đến sức khỏe con người không?

Hiện nay, amiăng nâu và xanh đã bị cấm sử dụng dưới mọi hình thức trên thế giới do hậu quả nghiêm trọng từ tính chất độc hại của sợi, điều kiện làm việc tồi tệ và việc sử dụng sai cách như phun, xịt dẫn đến phát tán bụi trong không khí, sau cùng gây ra các bệnh về phổi cho công nhân. Những bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi được phát hiện ngày hôm nay chính là kết quả của việc tiếp xúc với amiăng xanh và nâu từ 20 – 40 năm trước.

Tuy nhiên, sợi amiăng trắng vẫn đang được sử dụng có kiểm soát chặt chẽ tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước G8 gồm: Hoa Kỳ, Liên bang Nga và các nước: Mexico, Brazil, Ukraina, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Việt Nam…

Amiang Trang La Gi

Các nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế chưa tìm thấy bằng chứng bệnh tật do amiăng trắng gây ra, đồng thời nhấn mạnh khả năng gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người của các loại sợi amiăng là khác nhau. Nghiên cứu của Hodgson và Darnton (2000) chỉ ra rằng rủi ro bệnh tật khi phơi nhiễm với amiăng amphibole cao hơn rất nhiều so với amiăng trắng như sau:

Rủi ro mắc bệnh

Chrysotile Amosite

Crocidolite

Ung thư phổi 1 10 50
Ung thư trung biểu mô 1 100 500

(Nguồn: Hodgson J.T. and Darnton A. (2000). The Quantitative Risks of Mesothelioma and Lung Cancer in Relation to Asbestos. Ann. Occup. Hyg. 44(8): 565-601).

“Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng ở những người tiếp xúc” do Cục quản lý Môi trường Y tế – Bộ Y tế triển khai trong 3 năm 2009 – 2011 thuộc Dự án “Bảo vệ sức khỏe người lao động giai đoạn 2009-2011” do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản tài trợ thông qua Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Kết quả phỏng vấn tiền sử nghề nghiệp liên quan đến amiăng ở 447 trường hợp (trong 3 năm từ 2009 – 2011 và đây là các trường hợp bệnh liên quan đến amiăng bao gồm ung thư phổi, mảng dày màng phổi và ung thư trung biểu mô) vào nhập viện tại 06 bệnh viện lớn tham gia nghiên cứu cho thấy có 46 trường hợp được chẩn đoán ung thư trung biểu mô màng phổi (Mesothelioma màng phổi). 39 mẫu bệnh phẩm đối tượng được chẩn đoán ung thư trung biểu mô sau đó được lựa chọn gửi sang Bệnh viện Hiroshima, Nhật Bản đã được chuyên gia Nhật Bản xác định chẩn đoán là 08 trường hợp trong đó không có trường hợp nào có tiền sử rõ ràng tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng.

Kết quả giám sát sức khỏe của người lao động được thực hiện từ năm 1976 tới nay chỉ mới phát hiện được 04 trường hợp mắc bệnh bụi phổi amiăng nghề nghiệp trong số hơn 28.000 ca bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm. So với việc phơi nhiễm với bụi silic làm hơn 20.000 công nhân mắc bệnh bụi phổi silic hiện nay (chiếm 75% tổng số các bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm), con số 04 trường hợp bệnh bụi phổi amiăng là quá nhỏ. Các bệnh liên quan amiăng khác như ung thư phổi, ung thư trung biểu mô màng phổi chưa phát hiện được qua kết quả khám sức khỏe định kỳ và khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động trong ngành sản xuất tấm lợp fibro xi măng.

Sử dụng amiăng trắng an toàn 

Để sử dụng amiang trắng an toàn cũng như hướng tới bảo vệ sức khỏe cộng đồng và gìn giữ môi trường, ngày nay, chỉ có các sản phẩm chứa amiăng trắng ở hàm lượng cao mới được phép sản xuất. Hơn 90% lượng sợi amiăng trắng trên thế giới hiện nay được sử dụng trong việc sản xuất các vật liệu xây dựng chứa hỗn hợp amiăng trắng – xi măng.

Việc sản xuất tấm fibro xi-măng (Tấm lợp amiang) và ống nước fibro ximăng chỉ chứa một lượng rất nhỏ sợi amiăng trắng (từ 8 – 10%) trong đó tỷ lệ các loại vật liệu thô khác được sử dụng là xi-măng 55%, tro bụi than thiên nhiên là 35%. Các sợi amiăng trắng có cấu trúc rỗng, được gắn kết rất chặt chẽ với hạt xi măng trong suốt quá trình sản xuất nên khó có thể bị phân tán ra môi trường bên ngoài. Hơn nữa, các nhà máy hiện nay đều sử dụng công nghệ ướt và khép kín nên hạn chế tối đa việc phát tán bụi ra ngoài môi trường. Do đó, các rủi ro về về sức khỏe cộng đồng và môi trường cũng được giảm thiểu.

Ngành sản xuất tấm lợp fibro xi măng ở Việt Nam đã tồn tại hơn 50 năm, từ năm 1963 đến nay và đã phát triển thành một ngành công nghiệp gồm 39 cơ sở sản xuất với công suất thiết kế hơn 106 triệu m2/năm, sử dụng hơn 5.000 lao động. Từ 2008 đến nay, mỗi năm sản xuất và tiêu thụ khoảng 80 – 85 triệu m2/năm chiếm khoảng 40 – 42% nhu cầu về tấm lợp, sử dụng bình quân 60.000 – 70.000 tấn amiăng trắng/năm. Tấm lợp AC chịu đ­­ược những điều kiện khắc nghiệt của thời tiết nên tuổi thọ cao (30 – 50 năm), giá rẻ chỉ bằng 1/3 giá tôn mạ màu loại dày 0.4 mm, giá thấp hơn từ 41,5 – 80,6% loại tấm lợp sử dụng sợi thay thế.

Có rất nhiều các chiến dịch truyền thông kêu gọi sự ủng hộ cho việc cấm sử dụng amiăng trắng trên toàn thế giới bất chấp những nghiên cứu khoa học và ứng dụng thực tế hữu ích của loại sợi này. Đáng tiếc rằng mục tiêu của chiến dịch không hoàn toàn vì sức khỏe cộng đồng mà còn vì những lý do như cạnh tranh thương mại nhằm thay thế thị phần sợi amiăng bằng sợi PVA hoặc thay thế thị phần tấm fibro xi măng vốn đang chiếm 40% thị phần tấm lợp tại Việt Nam bằng tấm tôn hoặc tấm chứa cốt sợi PVA. Đặc biệt, nhiều tổ chức và cá nhân đã thu được nguồn lợi nhuận khổng lồ từ các hoạt động chống amiăng như phí luật sư, phần trăm tiền bồi thường cho nạn nhân khi tham gia các vụ kiện tụng…


Amiăng (asbestos) là tên thương mại chỉ nhóm các loại sợi khoáng tự nhiên được phân theo màu như amiăng trắng, amiăng nâu và amiăng xanh. Với cấu tạo dạng nhám, hình kim, cùng với việc sử dụng không đúng cách trong quá khứ, nhóm sợi amiăng nâu và xanh đã gây ra tổn thương về phổi cho những người phơi nhiễm với chúng trong một thời gian dài. Tuy nhiên, sợi amiăng trắng có dạng xoắn, xốp mềm đã được các nhà nghiên cứu khoa học khẳng định sẽ bị đào thải ra khỏi phổi từ 0,3 – 11 ngày sau khi thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, hoặc bị phân hủy bởi môi trường axit do các đại thực bào tạo ra nếu nuốt hoặc uống vào.

Do có những tính năng ưu việt vượt trội – không thể thay thế được bởi bất cứ loại sợi tự nhiên hay sợi nhân tạo nào – như độ bền cơ học và tính đàn hồi cao, chịu ma sát tốt, chống cháy, chịu được môi trường kiềm, cách điện, khó phân huỷ, ngăn cản vi khuẩn và sự tán xạ… amiăng trắng được coi là loại nguyên liệu xây dựng đầu vào hữu ích cho hơn 3.000 sản phẩm. Loại sợi này được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm fibrô xi măng (đặc biệt là tấm lợp sóng xi măng tại các nước đang phát triển), các vật liệu cách điện, cách nhiệt, ngành ôtô, ngành hàng không, dược, dầu mỏ và hạt nhân, sản xuất vật liệu chống cháy, sản phẩm dệt may và một số ngành khác.

Nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường, ngày nay, hầu hết các quốc gia đã cấm hoàn toàn việc khai thác và sử dụng amiăng nhóm nâu và xanh. Chỉ có các sản phẩm chứa amiăng trắng ở hàm lượng cao mới được phép sản xuất và đưa vào sử dụng một cách an toàn và có kiểm soát.

Sự khác nhau trong việc sử dụng amiăng trắng trong quá khứ và hiện tại

Sử dụng amiăng trắng trong quá khứ và hiện tại – Nguồn: Viện Chrysotile

TRƯỚC ĐÂY

NGÀY NAY

 

 

SẢN PHẨM

Amiăng – ximăng

Vật liệu chống ma sát

Vật liệu cách nhiệt

Sản phẩm dệt may

Chứa hàm lượng amiăng thấp

Chrysotile – ximăng

Vật liệu chống ma sát

Chứa hàm lượng chrysotile cao

 

LOẠI SỢI

Chrysotile

Amosite

Crocidolite

Chrysotile (amiăng trắng)

Các ứng dụng chi tiết của amiăng trắng trên thế giới – Nguồn: Northern Insulation Contractors

ỨNG DỤNG CỦA SỢI AMIĂNG TRẮNG

SẢN PHẨM

Tấm cách nhiệt Tấm ngăn, vỏ hộp, tấm ngói, tấm chịu lửa, lớp bọc cửa
Sợi amiăng chrysotile Được sử dụng để hàn các mối nối của các nồi chưng cất, ống khói, ống thông khí (ví dụ: miếng đệm, vỏ bọc lò sấy, lò đun…)
Các sản phẩm dệt may chứa amiăng chrysotile Tấm chịu lửa, áo chống lửa, găng tay cho lò đun, màn an toàn (màn chịu lửa)
Giấy amiăng chrysotile Tấm cách điện trong bộ chuyển mạch, lớp cách nhiệt trong lò hơi và lò sưởi điện tích nhiệt chạy điện
Vòng đệm Cho mặt bích nối ống
Các sản phẩm chịu ma sát Lớp đệm thắng cho các phương tiện đường bộ và đường sắt, thang máy và các loại máy khác
Gạch lát sàn chứa nhựa vinyl hay nhựa dẻo Sàn nhà, tấm ốp cầu thang, tấm ốp chân tường

Nhựa rải đường

 

Tấm dạ tẩm nhựa đường để lợp mái, bộ chống ẩm, lớp lót máng nước sơn phủ lên kim loại
Lớp sơn phủ bề mặt Sơn phủ bề mặt trần và tường theo công nghệ ARTEX
Bột matít, chất nối, keo dính Keo dán, chất bịt mối nối khung cửa sổ

 Các lĩnh vực phổ biến còn sử dụng amiăng trắng trên thế giới

Sản phẩm amiăng xi măng: Hỗn hợp amiăng – ximăng được phát minh tại nước Áo vào năm 1904 và bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình dân dụng và nông nghiệp ở châu Âu từ suốt thế kỷ 20, chủ yếu sau Chiến tranh Thế giới thứ II. Ngày này, hơn 90% lượng amiăng trắng trên thế giới được dùng để sản xuất các loại vật liệu xây dựng chứa hỗn hợp amiăng xi măng như ống nước, tấm lợp, tấm ngói… Những sản phẩm này rất phổ biến tại hơn 60 quốc gia đang phát triển và được ưa chuộng vì hiệu quả kinh tế và tính bền vững. Trên thực tế, việc sản xuất tấm lợp fibro ximăng và ống nước fibro ximăng có chi phí thấp, tiêu hao năng lượng ít hơn so với phương pháp sản xuất của các loại sản phẩm tương tự khác. Ngoài ra, các sản phẩm amiăng xi măng chứa lượng sợi amiăng trắng rất nhỏ, chỉ từ 8 – 10%, còn lại là xi măng chiếm 55%, tro bụi than thiên nhiên chiếm 35%. Đây cũng là các nguyên liệu thô có thể dễ dàng tìm thấy tại địa phương.

Vật liệu chống ma sát: Do bản chất tự nhiên của sợi amiăng trắng là chịu nhiệt nên loại sợi này được sử dụng rộng rãi trong việc sản xuất các vật liệu chịu ma sát như má phanh máy bay, ôtô, phanh cho thang máy, đệm lót, khớp ly hợp…

Các sản phẩm khác: Amiăng trắng đã từng được sử dụng trong việc sản xuất hơn 3.000 loại sản phẩm khác nhau. Ngày nay, do các cuộc vận động chống amiăng trắng con số đó đã giảm đi, nhưng vẫn còn một lượng đáng kể các ngành công nghiệp sử dụng các sản phẩm chứa amiăng trắng như ngành dệt may, nhựa, cao su, đệm cửa cho lò nung, các chất liệu dùng để trám chỗ hở tại nơi có nhiệt độ cao, giấy, các sản phẩm cho quân đội và ngành công nghiệp hạt nhân.

Sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, amiăng trắng được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp ứng dụng như sản xuất vật liệu chống ma sát; sản xuất phân lân nung chảy, làm phân NPK, nồi hơi, đóng và sửa chữa tàu thủy, các sản phẩm cho quân đội, an ninh quốc phòng… Sản phẩm có chứa amiăng trắng bao gồm sản phẩm nhập khẩu và sản phẩm sản xuất trong nước.

Các sản phẩm nhập khẩu có chứa amiăng trắng: Tấm bảo ôn chống cháy bằng amiăng dạng cuộn, vải amiăng dùng trong điện phân nhà máy nhiệt điện, sợi chịu nhiệt, tấm amiăng, dây amiăng lõi đồng tẩm chì, tấm cách nhiệt bằng amiăng (dùng cho máy ép nhựa), tấm lót bằng amiăng, sợi amiăng cách điện dạng tấm.

Sản phẩm có chứa amiăng trắng sản xuất tại Việt Nam:

  • Khai thác mỏ serpentin (amiăng trắng thuộc nhóm serpentin) để làm phân lân NPK: Cho đến nay Việt Nam đã phát hiện khoảng 17 điểm quặng amiăng phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc Việt Nam thuộc địa phận các tỉnh Cao Bằng, Hòa Bình, Sơn La, Thanh Hóa và Phú Thọ. Trong số các điểm này đã tiến hành tìm kiếm, thăm dò 5 mỏ quặng amiăng: mỏ Khu Cuốc, mỏ Khu Môn ở Hòa Bình; mỏ Gốc Me, mỏ Suối Cẩn ở Phú Thọ và mỏ Cốc Lạng ở Cao Bằng. Đây đều là những mỏ nhỏ với trữ lượng quặng từ 10.000 tấn đến khoảng 60.000 tấn. Hàm lượng ở mỏ chủ yếu chứa amiăng chrsyotile (amiăng trắng) và thành phẩm là bột serpentin, quặng nghiền thô, và serpentin nung chảy. Đá thô được khai thác từ các mỏ quặng serpentin sau khai thác được nghiền nhỏ và được sử dụng để sản xuất phân bón cho khoảng 500 công ty sản xuất phân bón ở khắp mọi miền đất nước. Phân lân NPK được nông dân sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.

Sợi amiăng trắng tinh khiết nhập khẩu có dạng bột, sợi dài và được sử dụng trong công nghệ sản xuất tấm lợp, ống dẫn nước, má phanh ô tô và các sản phẩm dân dụng cách nhiệt, cách âm khác (hơn 3.000 sản phẩm) như:

  • Sản xuất vật liệu chống ma sát: Theo báo cáo từ các tỉnh/thành phố gửi về cho Viện Vật liệu Xây dựng vào năm 2015, hiện tại chỉ có 01 cơ sở sản xuất má phanh làm từ sợi amiăng. Đó là công ty cổ phần bao bì và má phanh Viglacera thuộc Bộ Công Thương. Còn lại, hầu hết má phanh đang sử dụng trong các nhà máy lắp ráp ô tô là linh kiện nhập khẩu nguyên chiếc. (Nguồn: Công ty Viglacera. 2009- 2012)
  • Ngành đóng và sửa chữa tàu thủy: Ngành đóng và sửa chữa tàu thủy ở Việt Nam khá phát triển, đặc biệt là ở các tỉnh dọc bờ biển. Việc đóng và sửa chữa các con tàu lớn, kể cả tàu nước ngoài đều do Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam đảm nhiệm (VINASHIN).
  • Nồi hơi trong lĩnh vực phát điện và lĩnh vực công nghiệp.
  • Ngành sản xuất tấm lợp fibro xi măng: Đây là ngành công nghiệp đã tồn tại hơn 50 năm, từ năm 1963 đến nay và đã phát triển thành một ngành công nghiệp gồm 39 cơ sở sản xuất với công suất thiết kế hơn 110 triệu m2/năm, sử dụng hơn 5.000 lao động. Theo số liệu của Cục Hóa chất (Bộ Công thương) năm 2014, Việt Nam đã nhập khẩu ước tính 64.000 tấn amiăng trắng năm 2012, 45.000 tấn năm 2013, và 54.000 tấn năm 2014 để sản xuất tấm lợp. Theo quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng nhu cầu về tấm lợp AC sẽ tăng lên 91 – 101 triệu m2 trong năm 2015, và đến năm 2020 sẽ là 100 – 112 triệu m2.



Trong nền kinh tế thị trường, các sản phẩm tấm lợp không ngừng phát triển về quy mô, số lượng, chất lượng, chủng loại, mẫu mã, và phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt để tồn tại và phát triển. Muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, không còn cách nào khác là các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao đổi mới cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh môi trường, hạ giá thành sản phẩm, hợp tác và cùng nhau thống nhất bình ổn thị trường, giá cả hợp lý để đảm bảo quyền lợi người sản xuất và tiêu dùng. Bên cạnh đó, sản phẩm tấm lợp chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các vật liệu tấm lợp kim loại, ngói đất nung, nhà bê tông, tranh tre nứa lá, tấm lợp fibro xi măng.

Dư luận trong và ngoài nước đã đặt vấn đề xem xét ảnh hưởng của Amiăng đến sức khỏe con người nên tác động không nhỏ đến một số người làm công tác quản lý và tiêu dùng suy nghĩ không đúng về Amiăng chrysotile và các sản phẩm có chứa Amiăng chrysotile.

Để giải quyết những vấn đề bức xúc trên, đồng thời cần có một định hướng đúng đắn cho ngành tấm lợp Việt Nam cần phải có một tổ chức Hiệp hội để duy trì và phát triển ngành. Xuất phát từ tình hình đó, đồng thời được sự đồng ý của Chính phủ và các ban ngành chức năng, ngày 1/7/2000 Hiệp hội tấm lợp Việt Nam đã ra đời.

Ngày 1/7/2000, Đại hội thành lập Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam đã bầu Ban chấp hành, Ban kiểm soát và 6 ban chuyên môn của Hiệp hội và đã thông qua điều lệ và phương hướng hoạt động.

Hiệp hội bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, là cầu nối giữa doanh nghiệp với chính quyền các cấp, đốc thúc doanh nghiệp thực hiện đúng theo quy định kinh doanh có điều kiện của pháp luật, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tổ chức các khóa huấn luyện, đào tạo, các hội thảo, hội nghị chuyên đề, thu thập và cung cấp thông tin về những vấn đề có tác động đến ngành tấm lợp tới toàn thể hội viên.



ĐIỀU LỆ HIỆP HỘI TẤM LỢP VIỆT NAM

CHƯƠNG I: TÊN GỌI, MỤC ĐÍCH, TÔN CHỈ

 Điều 1:

Tên gọi của hiệp hội: HIỆP HỘI TẤM LỢP VIỆT NAM

Tên giao dịch tiếng Anh: VIETNAM NATIONAL ROOFSHEET ASSOCIATION

Viết tắt: VNRA

 Điều 2:

Hiệp hội tấm lợp Việt Nam là một tổ chức nghề nghiệp được thành lập nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, các nhà quản lý, các chuyên viên kỹ thuật, các tổ chức và cá nhân trong cả nước có liên quan đến ngành tấm lợp để cùng nhau góp sức phấn đấu cho hoạt động phát triển của ngành.

 Điều 3:

Hiệp hội tấp lợp Việt Nam hoạt động tuân theo các quy định của pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và theo điều lệ của Hiệp hội. Hiệp hội được sự bảo trợ giúp đỡ của Bộ Xây dựng, là cơ quan quản lý Nhà nước về ngành vật liệu xây dựng.

 Điều 4:

Hiệp hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản tại ngân hàng. Trụ sở hiệp hội đóng tại thủ đô Hà Nội. Văn phòng đại diện của Hiệp hội tại các tỉnh, thành phố trong cả nước và ở nước ngoài khi xét thấy cần thiết và theo quy định của pháp luật.

 CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG CỦA HIỆP HỘI

 Điều 5:

Các hội viên của hiệp hội phối hợp tổ chức các buổi hội thảo nhằm mục đích sau:

Thảo luận, trao đổi thông tin, kinh nghiệm về các lĩnh vực như:

  • Chất lượng sản phẩm.
  • Các giải pháp trong công nghệ.
  • Các biện pháp xử lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường.
  • Các vấn đề liên quan đến giá cả nguyên liệu, thành phẩm.
  • Các kinh nghiệm chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho công nhân sản xuất.

Đóng góp ý kiến đối với các chính sách, quy định của nhà nước có liên quan đến việc sản xuất, kinh doanh tấm lợp như chính sách xuất nhập khẩu nguyên liệu, phụ tùng, máy móc thiết bị, quy định về môi trường và các dự án đầu tư phát triển ngành sản xuất vật liệu xây dựng.

Thông qua hội thảo, các hội viên sẽ đi đến một thỏa hiệp hay kiến nghị với nhà nước về các vấn đề trên sao cho có thể bảo vệ quyền lợi cho các hội viêc và tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của các hội viên doanh nghiệp.

 Điều 6:

Hiệp hội phối hợp với các cơ quan khoa học kỹ thuật, viện nghiên cứu, các cơ quan môi trường trong nước hay các tổ chức nước ngoài có liên quan để tổ chức các buổi hội thảo khoa học hay các chuyến tham quan, khảo sát thực tế nhằm mục đích:

  • Trao đổi, tiếp nhận thông tin khoa học kỹ thuật và những ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới trong sản xuất, bảo vệ môi trường.
  • Nâng cao chất lượng sản phẩm.
  • Tìm ra biện pháp tối ưu sử dụng vật liệu mới trong sản xuất tấm lợp phù hợp với các quy định của nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe công nhân và người tiêu dùng.

 Điều 7:

Hiệp hội hỗ trợ các hội viên trong công tác đào tạo, thực tập trong và ngoaòi nước góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, hiểu biết về các vấn đề có liên quan.

 Điều 8:

Hòa giải tranh chấp giữa các hội viên. Luôn bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên khi có những tranh chấp trong quá trình thực hiện các hợp đồng sản xuất thương mại, dịch vụ.

 Điều 9:

Xuất bản tạp chí, sách báo cần thiết phục vụ cho các mục tiêu của Hiệp hội khi được phép.

 CHƯƠNG III: QUY ĐỊNH VỀ HỘI VIÊN

 Điều 10:

Hội viên chính thức của Hiệp hội bao gồm các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, các tổ chức và cá nhân có liên quan đến ngành tấm lợp trong cả nước.

Hội viên tư vấn của Hiệp hội là những người nhiệt tình, có kinh nghiệm, uy tín trong ngành như: các nhà quản lý, các chuyên viên kỹ thuật … có khả năng tham gia đóng góp vào mục đích hoạt động của Hiệp hội.

Hội viên liên kết của Hiệp hội bao gồm những thể nhân hay pháp nhân là những doanh nghiệp trong và ngoài nước có mối quan hệ liên doanh liên kết giúp đỡ nhau cùng phát triển sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả kinh tế cao và trình độ công nghệ tiên tiến hiện đại.

Các hội viên tham gia Hiệp hội theo nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện.

 Điều 11:

Các cá nhân hay tổ chức pháp nhân được nêu trong điều 10 nếu có đơn xin gia nhập Hiệp hội thì được Ban chấp hành Hiệp hội xét duyệt chấp thuận là hội viên.

 Điều 12:

Mỗi pháp nhân tham gia Hiệp hội nếu là tổ chức (hội viên của Hiệp hội) thì người đại diện cho một hội viên phải là người có thẩm quyền quyết định của đơn vị hội viên. Trường hợp ủy quyền làm đại diện, người ủy quyền phải có đủ thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm về sự đại diện đó.

Hội viên phải thông báo bằng văn bản cho Hiệp hội khi có sự thay đổi người đại diện của mình.

 Điều 13:

Trường hợp hội viên muốn xin ra khỏi Hiệp hội thì phải gửi đơn cho Ban chấp hành Hiệp hội trước 3 tháng và phải đóng hội phí trong thời gian đó.

 Điều 14: Nghĩa vụ của Hội viên

1. Tuân theo điều lệ Hiệp hội.

2. Thực hiện các nghị quyết, quyết định được thông qua tại Đại hội hay Ban chấp hành Hiệp hội.

3. Thực hiện những công việc được Hiệp hội phân công.

4. Cung cấp thông tin, báo cáo kịp thời phục vụ cho các hoạt động của Hiệp hội.

5. Tích cực tham gia các hoạt động phối hợp giữa các hội viên trong Hiệp hội, đề xuất các ý kiến đóng góp đối với các hoạt động của Hiệp hội về những vấn đề trước mắt và lâu dài nhằm thúc đẩy hoạt động của Hiệp hội đạt hiệu quả cao.

6. Đóng góp đầy đủ lệ phí gia nhập hội và hội phí hàng năm theo quy định.

7. Đoàn kết, hỗ trợ, giúp đỡ các hội viên khác, các tổ chức chuyên môn của Hiệp hội. Nâng cao uy tín, xây dựng Hiệp hội ngày càng vững mạnh.

8. Giữ gìn uy tín, tư cách, phẩm chất nghề nghiệp. bảo vệ lợi ích chung của ngành. Không làm tổn hại đến lợi ích của các hội viên khác trong Hiệp hội và cũng không làm tổn thất lợi ích của người tiêu dùng.

 Điều 15: Quyền lợi của Hội viên

1. Được tham gia các đại hội và thảo luận, biểu quyết các công việc của Hiệp hội.

2. Được ứng cử và đề cử vào các chức vụ lãnh đạo của Hiệp hội.

3. Được tham gia vào những ban chuyên môn và tổ chức của Hiệp hội trong và ngoài nước, thông qua đó thực hiện những chương trình kế hoạch hoạt động của Hiệp hội.

4. Được tiếp nhận và áp dụng thông tin, giải pháp kỹ thuật, công nghệ sản xuất mới do Hiệp hội cung cấp và được hỗ trợ các giải pháp tư vấn của Hiệp hội trong việc đầu tư công nghệ mới, trong liên doanh với nước ngoài khi các hội viên yêu cầu.

5. Được quyền tham gia các đoàn đi tham quan trong và ngoài nước để nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tìm tòi giải pháp công nghệ sản xuất mới, xử lý môi trường … do Hiệp hội tổ chức.

6. Được uỷ quyền sử dụng trụ sở và những phương tiện của Hiệp hội để giao dịch với các tổ chức trong và ngoài nước về những công việc có liên quan đến hoạt động hợp pháp của đơn vị.

7. Được nhận và sử dụng những thông tin, ấn phẩm của Hiệp hội để giới thiệu, tuyên truyền về Hiệp hội trong và ngoài nước.

8. Được quyền yêu cầu Hiệp hội bảo về quyền lợi chính đáng của mình khi có những tranh chấp trong quá trình thực hiệ các hợp đồng sản xuất và thương mại dịch vụ.

9. Hội viên liên kết được hưởng mọi quyền lợi của hội viên trừ quyền bầu cử, ứng cử và biểu quyết.

 CHƯƠNG IV: TỔ CHỨC CỦA HIỆP HỘI

 Điều 16: Bộ máy tổ chức của Hiệp hội

Ban chấp hành Hiệp hội

Ban thường trực

Chủ tịch Hiệp hội

Các Phó chủ tịch, văn phòng Hiệp hội và các ban chuyên môn.

Cơ sở của Hiệp hội là các Chi hội, các trung tâm và các bộ phận giúp việc.

 Điều 17: Đại hội toàn thể hội viên được triệu tập 5 đợt một lần

Các hội viên có nhiệm vụ thực hiện các công việc sau trong mỗi kỳ họp Đại hội:

  • Thông qua các điều lệ Hiệp hội hay bổ sung, sửa đổi (nếu có)
  • Kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết của hiệp hội.
  • Thông qua báo cáo tài chính của nhiệm kỳ trước
  • Bầu ban chấp hành mới.
  • Bầu trưởng ban kiểm tra.
  • Thảo luận và phê chuẩn chương trình, kế hoạch hoạt động của Hiệp hội trong nhiệm kỳ kế tiếp.

 Điều 18: Ban chấp hành Hiệp hội (BCH)

1. BCH là cơ quan điều hành cao nhất giữa hai kỳ đại hội, do các hội viên bầu ra trong kỳ họp đại hội. Số lượng thành viên BCH là số lẻ, số lượng ủy viên cũng do các hội viên quyết trong đại hội.

2. BCH sẽ tự bầu Chủ tịch, Phó chủ tịch, chỉ định Chánh văn phòng và Trưởng ban chuyên môn.

3. Đứng đầu BCH là Chủ tịch Hiệp hội. Tùy theo sự phát triển, quy mô tổ chức và mức độ phức tạp của các lĩnh vực hoạt động mà BCH sẽ quyết định số lượng các Phó chủ tịch, các ban chuyên môn, ban thư ký và ban kiểm tra.

4. BCH có nhiệm vụ và quyền hạn:

  • Phân công nhiệm vụ, lĩnh vực phụ trách giữa các ủy viên trong BCH.
  • Chỉ đạo thực hiện nghị quyết của Hiệp hội.
  • Xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch hoạt động của Hiệp hội theo định kỳ.
  • Quyết định thực hiện thành lập các đại diện chi nhánh của Hiệp hội tại các địa bàn trong nước, ngoài nước khi thấy cần thiết và theo đúng quy định của Pháp luật.
  • Được quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật trưởng đại diện, giám đốc chi nhánh trung tâm của Hiệp hội.
  • Được quyết định thành lập trung tâm thông tin khoa học kỹ thuật, ban hành bản tin nội bộ.
  • Xét nhu cầu cụ thể của Hiệp hội có thể ra quyết định thành lập trung tâm dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu, xây lắp và chuyển giao công nghệ.
  • Xét duyệt đơn xin gia nhập Hiệp hội.
  • Quyết định xóa tên hội viên cũ do tự nguyện rút đơn ra khỏi Hiệp hội hay do không chấp hành điều lệ Hiệp hội.
  • Tổng hợp ý kiến của Hiệp hội và đề xuất kiến nghị đối với chính sách quản lý, quy định của Nhà nước sao cho phù hợp với tình hình thực tế và có lợi ích cho các hội viên.
  • Quyết định khen thưởng và kỷ luật hội viên.

5. Ban chấp hành họp 06 tháng một lần hoặc bất thường theo triệu tập của Chủ tịch Hiệp hội. Biểu quyết tại hội nghị BCH thực hiện theo nguyên tắc đa số quyết định có giá trị là quyết định ít nhất ½ số ủy viên dự họp biểu quyết đồng ý.

 Điều 19: Ban thường trực Hiệp hội

1. Ban thường trực Hiệp hội bao gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và Chánh văn phòng.

2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban thường trực hiệp hội:

  • Điều hành công việc thường trực của Hiệp hội và những công việc theo chương trình công tác giữa hai kỳ đại hội.
  • Theo dõi, đôn đốc thực hiện nghị quyết của đại hội toàn thể hội viên, hội nghị thường niên Hiệp hội và của BTC.
  • Giữ mối quan hệ chặt chẽ với các hội viên, các thành viên trong BCH.
  • Thay mặt Hiệp hội chặt chẽ với các hội viên, các thành viên trong BCH.
  • Đảm nhiệm công tác nghiệp vụ, hành chính tổng hợp, quản trị tài chính của Hiệp hội.

3. Ban thường trực Hiệp hội họp 6 tháng một lần hoặc họp bất thường theo triệu tập của Chủ tịch Hiệp hội.

4. Giúp việc cho Ban thường trực là văn phòng Hiệp hội do Phó chủ tịch thường trực phụ trách.

 Điều 20: Chủ tịch Hiệp hội

1. Chủ tịch Hiệp hội do BCH bầu. Nhiệm kỳ của Chủ tịch Hiệp hội là 5 năm.

2. Chủ tịch Hiệp hội có nhiệm vụ:

  • Đại diện về pháp lý trong các hoạt động và trong quan hệ đối nội, đối ngoại của Hiệp hôi.
  • Thay mặt BTC triệu tập hội nghị thường niên, chủ trì các cuộc họp định kỳ hoặc bất thường của BCH.

3. Khi Chủ tịch Hiệp hội đi vắng thì phải ủy quyền cho một Phó chủ tịch thay thế.

 Điều 21:

Hội nghị thường niên toàn thể các hội viên Hiệp hội họp mỗi năm một lần đề:

  • Đánh giá tình hình hoạt động của năm trước.
  • Phổ biến chương trình hoạt động năm tới.
  • Thông qua quyết toán thu chi tài chính năm trước và dự toán thu chi năm tài chính kế tiếp.
  • Thông báo bổ sung các hội viên mới, xóa tên các hội viên cũ được BCH duyệt.

 Điều 22:

Đại hội và hội nghị toàn thể các hội viên có thể họp bất thường khi có yêu cầu của ít nhất 2/3 hội viên hoặc ít nhất 2/3 số thành viên BCH.

Chủ tịch hiệp hội có thể triệu tập hội nghị toàn thể hội viên khi có công tác đột xuất.

 CHƯƠNG V: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TÀI CHÍNH

 Điều 23:

Nguồn thu nhập của Hiệp hội bao gồm hội phí tham gia Hiệp hội của hội viên đóng góp hàng năm; Tiền thu hợp pháp từ các hoạt động tư vấn thông tin, dịch vụ và các hợp đồng khác. Tiền ủng hộ của các tổ chức trong và ngoài nước và các khoản thu khác.

 Điều 24:

Hội phí tham gia Hiệp hội do các hội viên ấn định trong kỳ họp đại hội đầu tiên.

Hội phí của các hội viên tư vấn và Hội viên liên kết được đóng tùy theo khả năng và tự nguyện.

Hội phí của hội viên chính thức được tính bằng sản lượng sản phẩm tiêu thụ, bằng % doanh thu hoặc % lợi nhuận trước thuế của đơn vị của kế hoạch năm trước, do Đại hội toàn thể hội viên quyết định.

 Điều 25:

Năm tài chính đầu tiên của Hiệp hội bắt đầu từ ngày họp đại hội toàn thể hội viên lần thứ nhất và kết thúc vào ngày 31/12 cùng năm. Năm tài chính tiếp theo được tính theo năm dương lịch từ 1/1 và kết thúc vào 31/12 cùng năm.

 ĐIỀU 26: Các khoản chi của Hiệp hội

Chi cho các hoạt động thường xuyên của Hiệp hội.

Mua sắm dịch vụ văn phòng phục vụ cho công tác của Hiệp hội.

Chi khen thưởng.

Tài chính của Hiệp hội được quản lý theo chế độ tài chính Nhà nước.

 Điều 27:

1. Ban thường trực tổng hợp, lập báo cáo các diễn biến thu chi tài chính trong năm và chuyển cho Ban kiểm tra của Hiệp hội trong vòng 15 ngày sau khi kết thúc năm tài chính.

2. Ban kiểm tra xem xét các báo cáo về công tác tài chính của Hiệp hội.

3. Các kế hoạch thu chi do BTC thông qua và báo cáo trước Đại hội toàn thể hội viên.

4. Nếu quỹ tiền năm tài chính trước dư sẽ chuyển sang năm tài chính kế tiếp.

5. Trong trường hợp Hiệp hội giải thể toàn bộ tài sản (nếu có), tiền quỹ của Hiệp hội sẽ được kiểm kê, đánh giá lại và được toàn thể hội viên thống nhất xử lý theo quy định hiện hành.

 CHƯƠNG VI: KHEN THƯỞNG KỶ LUẬT

 Điều 28:

1. Cán bộ quản lý trong Hiệp hội, hội viên và ban ngành chuyên môn của Hiệp hội có nhiều thành tích đóng gáp cho hoạt động của Hiệp hội sẽ được khen thưởng. BCH sẽ xem xét và quyết định mức độ khen thưởng.

2. Các cán bộ quản lý trong Hiệp hội, hội viên vi phạm điều lệ Hiệp hội, làm tổn hại đến lợi ích của Hiệp hội hay của hội viên khác phải chịu xử lý kỷ luật do BTC xem xét từ mức phê bình, cảnh cáo hoặc khai trừ ra khỏi Hiệp hội tùy mức độ vi phạm.

 CHƯƠNG VII: ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG

 Điều 29:

Bản điều lệ này gồm 7 chương 29 điều, được toàn thể hội viên thông qua ngày 01 tháng 07 năm 2000 và có giá trị kề từ ngày được Ban tổ chức cán bộ chính phủ phê duyệt. Tất cả các hội viên Hiệp hội có trách nhiệm thực hiện điều lệ này.

Mọi sửa đổi trong điều lệ phải được thông qua tại Đại hội toàn thể hội viên mới có giá trị thực hiện.


1 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY LẮP VÀ VLXD ĐÔNG ANH
Địa chỉ: Tổ 8, Thị trấn Đông Anh, Huyện Đông Anh, Hà Nội
Điện thoại: 0243 8832 175
Fax 0243 8832 502
2 CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ VLXD ĐÔNG ANH 6
Địa chỉ:  Thành Lập, Lương Sơn, Hòa Bình
Điện thoại: 0243 3710 710
Fax 0243 3711 345
3 CÔNG TY TNHH VLXD HOÀNG LONG
Địa chỉ: Điểm CN và TTCN Tân Tiến, Chương Mỹ, Hà Nội
Điện thoại: 0243 3132 170
Fax 0243 3132 165
4
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ & VLXD ĐÔNG ANH 9
Địa chỉ:  Thị trấn Đoan Hùng, Tỉnh Phú Thọ
Điện thoại: 0210 3881 055
Fax
5 CÔNG TY CỔ PHẦN DIAMOND
Địa chỉ: Khu CN Bình Xuyên, Thị trấn Hương Canh, Huyện Bình Xuyên, Tỉnh Vĩnh Phúc
Điện thoại: 0211 3593 377
Fax 0211 3597 727
6 CHI NHÁNH CÔNG TY CỔ PHẦN ĐT & SX CÔNG NGHIỆP – NHÀ MÁY XI MĂNG LƯU XÁ
Địa chỉ: Phường Phú Xá, Thành Phố Thái Nguyên, Tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại: 0208 3652 742
Fax 0208 3857 622
7 CÔNG TY CỔ PHẦN AN PHÚC
Địa chỉ: Khu CN Phía Nam, Xã Văn Tiến, TP. Yên Bái, Tỉnh Yên Bái
Điện thoại: 0216 3893 246
Fax 0216 3893 245
8 CÔNG TY CỔ PHẦN TẤM LỢP TỪ SƠN
Địa chỉ: Thôn Tân Lập, Phường Đình Bảng, Thị trấn Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh
Điện thoại: 0222 3841 050
Fax 0222 3831 497
9 CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT – THƯƠNG MẠI TÂN THUẬN CƯỜNG
Địa chỉ: Thôn Bình Di, Xã Kỳ Sơn, Huyện Tứ Kỳ, Tỉnh Hải Dương
Điện thoại: 0220 2478 418
Fax 0220 3624 201
10 CÔNG TY TNHH BÌNH PHÁT
Địa chỉ: QL 1A, Hoằng Phú, Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Điện thoại: 0983 915 870
Fax 0237 3639 661
11 CÔNG TY CỔ PHẦN PHƯƠNG BẮC
Địa chỉ: Lô B4 Khu công nghiệp Bỉm Sơn Phường Bắc Sơn, Thị xã Bỉm Sơn, Thanh Hóa
Điện thoại: 0237 3766 447
Fax 0237 3766 447
12 CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT THÁI
Địa chỉ: Khu CN Đồng Tu, Huyện Hưng Hà, Thái Bình
Điện thoại: 0227 3861 990
Fax 0227 3956 360
13 CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT VINH
Địa chỉ: Khối 3 Trung Đô, TP.Vinh, Nghệ An
Điện thoại: 0238 3855 358
Fax 0238 3552 338
14 CÔNG TY TNHH VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRUNG NAM
Địa chỉ: Xã Trung Lương, Thị xã Hồng Lĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh
Điện thoại: 0239 3571 411
Fax 0239 3571 410
15 CÔNG TY CỔ PHẦN HƯƠNG HOÀNG
Địa chỉ: KCN Quán Ngang, Gio Linh, Quảng Trị
Điện thoại: 0911 468 357
Fax
16 CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI SỐ 1 (NHÀ MÁY SX TẤM LỢP TẤN PHÁT TÂM CHÂU)
Địa chỉ: KCN Nam Đông Hà, Phường Đông Lương, Đông Hà, Quảng Trị
Điện thoại: 0233 3526 267
Fax 0233 3527 677
17 CÔNG TY CỔ PHẦN QUẢNG PHÚC
Địa chỉ: Cụm CN Làng nghề Bình Nguyên, Bình Sơn, Quảng Ngãi
Điện thoại: 0255 3518 286
Fax 0255 3518 286
18 CÔNG TY CP VLXD MOTILEN CẦN THƠ
Địa chỉ: Lô 17F1, Khu CN Trà Nóc 1, Quận Bình Thủy, Thành phố Cần Thơ
Điện thoại: 0292 3821 610
Fax 0292 3821 679
19 CÔNG TY CỔ PHẦN TLVLXD ĐỒNG NAI
Địa chỉ: Đường số 4, Khu CN Biên Hoà 1, Phường An Bình, TP. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai
Điện thoại: 0251 3836 130
Fax 0251 3836 023
20 CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH VLXD HẠ LONG
Địa chỉ: Khu Công Nghiệp Long Định, Xã Long Cang, Huyện Cần Đước, Tỉnh Long An
Điện thoại: 0272 3726 737
Fax 0272 3725 537

 


VTV1_Bản tin Tiêu dùng 24h_Có cần thiết dán nhãn cảnh báo tấm lợp fibro xi măng
Trên thực tế, hiện vẫn tiếp tục có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề sản phẩm fibro ximăng có an toàn hay không? Nhiều ý kiến cho rằng, trong bối cảnh chưa ...
Truyền hình Quốc hội_Không cần thiết dán nhãn cảnh báo nguy hại đối với sản phẩm fibro xi măng
Những năm qua, các nghiên cứu khoa học quốc tế và trong nước đã khẳng định không phát hiện trường hợp bệnh ác tính nào liên quan tới sản xuất và sử ...
Truyền hình Quốc hội_Tạo hành lang pháp lý ổn định cho doanh nghiệp sản xuất tấm lợp fibro xi măng
Tại Hội thảo “Sản phẩm fibro xi măng an toàn khi sử dụng” do Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam tổ chức sáng ngày 19/01/2021 tại Hà Nội, các đại biểu và chuyên ...
Thời sự THTP Cần Thơ_Trao nhà tình nghĩa 20/11 (Eng sub)
Ngày 20/11/2020, Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam, kết hợp cùng Công ty FM Trading, Quỹ Tấm lòng Việt – Đài Truyền hình Việt Nam và chính quyền địa phương ...
Phóng sự Về quê_VTV1_Trao tặng nhà tình nghĩa tại tỉnh Hà Giang ngày 18/12/2020 (Eng Sub)
Khép lại hành trình thiện nguyện năm 2020, ngày 18 tháng 12 năm 2020, Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam cùng Quỹ Tấm lòng Việt - Đài Truyền hình Việt Nam đã tổ ...
Thời sự Hà Giang_Trao nhà tình nghĩa 18/12 (English sub)
Sáng ngày 18/12/2020, Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam và Quỹ Tấm lòng Việt đã chính thức bàn giao mái ấm tình nghĩa cho hai cháu Vàng Thị Hà và Vàng Minh ...
Phóng sự Về quê_VTV1_Trao tặng nhà tình nghĩa tại Cần Thơ ngày 20/11/2020 (Eng Sub)
Tiếp tục trong khuôn khổ chương trình tài trợ nhà và trường tình nghĩa của Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam và Quỹ Tấm lòng Việt - Đài Truyền hình Việt Nam, vào ...
VTV Cùng em đến trường_Trao tặng điểm trường tình nghĩa tại Vị Xuyên, Hà Giang_ 08/11/2020 (Eng Sub)
Sáng ngày 26/10, lãnh đạo huyện Vị Xuyên cùng Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam và Quỹ Tấm lòng Việt – Đài Truyền hình Việt Nam đã tổ chức lễ bàn trao trường ...
26102020_Trao nhà tình nghĩa và điểm trường tại Vị Xuyên, Hà Giang_Truyền hình Hà Giang (Eng Sub)
Sáng ngày 26/10, lãnh đạo huyện Vị Xuyên cùng Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam và Quỹ Tấm lòng Việt – Đài Truyền hình Việt Nam đã tổ chức lễ bàn trao trường ...
28102020_ Lễ trao tặng nhà tình nghĩa tại Nghệ An (English subtitle)
Bên trong căn nhà mục nát là tài sản duy nhất của cha mẹ để lại, ba mảnh đời bất hạnh gồm anh Nguyễn Đức Hòa, em gái Nguyễn Thị Vân và cháu trai Nguyễn ...
Trao nhà tình nghĩa tại Nam Định_Thời sự truyền hình tỉnh Nam Định_15/10/2020 (English subtitle)
Chương trình trên sóng Truyền hình Nam Định được phát sóng ngày 15/10/2020 về Lễ Trao tặng Nhà tình nghĩa cho hộ gia đình bà Vũ Thị Vàn tại xã Yên Phúc, ...
Phóng sự Về quê _ VTV1_17/10/2020 (English subtitle)
Chương trình "Về quê" được phát sóng ngày 17/10/2020 về hai hộ gia đình anh Danh Dũng và anh Lê Văn Nhi tại Cần Thơ. Gia đình anh Danh Dũng trú tại ...

Hiệp hội tấm lợp Việt Nam

Địa chỉ
Tầng 5, Số 42, Phố Tô Hiến Thành,
Phường Bùi Thị Xuân, Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

 

Tel
(84) 4 3776 2552
Fax
(84) 4 3776 2612
Email
hiephoitamlop_vn@yahoo.com
Website
www.chrysotile.vn