Cần có cái nhìn khách quan về sợi amiăng trắng

Chúng ta vẫn nghe nói nhiều đến việc sử dụng sợi amiăng trong sản xuất tấm lợp fibro xi măng tại Việt Nam cũng như những ảnh hưởng của nó đối với sức khỏe người lao động. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan thì có nhiều câu hỏi đặt ra mà các cơ quan ban ngành chính phủ cũng như các nhà nghiên cứu khoa học cần phải có câu trả lời.

Amiăng (tiếng Anh thường gọi asbestos) là tên thương mại dùng chung cho nhóm các loại sợi khoáng. Trên thực tế, sợi amiăng được chia thành hai nhóm chính: nhóm serpentine và nhóm amphibole. Amiăng chrysotile (amiăng trắng) thuộc nhóm serpentine có dạng xoắn, xốp mềm, được sử dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp tại hơn 100 quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Các loại sợi amiăng amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, và anthophyllite đều thuộc nhóm amphibole (amiăng nâu và xanh) có dạng thẳng, hình kim và bị coi là nguyên nhân gây ra các bệnh về phổi.

Việt Nam đã cấm sử dụng amiăng amphibole dưới mọi hình thức từ năm 1998. Quyết định số 121/2008/QĐ–TTG của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020” trong đó cho phép sử dụng amiăng trắng trong sản xuất tấm lợp, đồng thời các cơ sở sản xuất phải không ngừng đầu tư chiều sâu, hoàn thiện công nghệ, bảo đảm nghiêm ngặt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường và y tế.

Đây chắc chắn là quyết định dựa trên những nghiên cứu khoa học của thế giới cũng như ý kiến đóng góp từ các chuyên gia đầu ngành về Y tế và Lao động Việt Nam trình chính phủ. Ngoài ra nếu xét về yếu tố xã hội thì ngành công nghiệp tấm lợp fibro xi măng đã góp phần không nhỏ vào các chương trình xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho lao động, khắc phục thiên tai lũ lụt…

Tuy nhiên, theo ý kiến của Tiến sĩ Phạm Văn Hải, Giám đốc trung tâm Khoa học Môi trường và phát triển bền vững (thuộc viện nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật Bảo hộ lao động) thì “cần nhanh chóng cấm sản xuất amiăng ở Việt Nam”. Tuy nhiên khi trả lời về tác hại của việc sử dụng tấm lợp fibro xi măng thì ông Hải lại cho hay: “chưa có số liệu chứng minh những tác hại cụ thể như thế nào”. Điều này nghe có vẻ mâu thuẫn.

(Tranh cãi về amiăng: Lợi hay hại? – http://www.vietnamplus.vn/moi-ruong/200903166140626852)

Thực ra, minh chứng về những ảnh hưởng của amiăng trắng đã thể hiện rất rõ ràng không chỉ trong Công ước 162 của ILO. Kết quả nghiên cứu từ ba phòng thí nghiệm ở Thụy Sĩ, Đức, Mỹ chứng minh số ngày cần thiết để sợi amiăng chrysotile đào thải ra khỏi phổi là khoảng từ 0,3 – 11 ngày trong khi nhóm amphibole có chu kỳ bán rã từ 500 ngày trở lên, sợi ceramic (RCF 1) là 60 ngày, sợi aramid là khoảng 90 ngày và sợi cellulose là hơn 1000 ngày. Ngoài ra những thí nghiệm trên động vật cho thấy chrysotile nhanh chóng bị đào thải khỏi phổi sau khi hấp thụ (Bernstein và các cộng sự, 2003a,b, 2004, 2005a,b).

(An toàn và trách nhiệm trong sử dụng sợi amiăng trắng – http://www.ktdt.com.vn/newsdetail.asp?NewsId=160136&CatId=55)

Trong tài liệu “Những ảnh hưởng đối với sức khỏe của sợi amiăng trắng (sợi chrysotile), tổng hợp các nghiên cứu khoa học”, tiến sĩ David M.Bernstein – Viện nghiên cứu độc tố học – Thụy Sĩ và Tiến sĩ John A.Hoskins – Viện nghiên cứu độc tố học của Anh đã đề cập đến: cấu trúc của sợi chrysotile bị phân hủy vô định hình sau khi được ngâm trong axit với liều lượng có kiểm soát (Wypych và các cộng sự 2005); thành phần hóa học của các nhóm sợi amiăng (Speil và Leineweber, 1969); phân tích phổi của công nhân tiếp xúc chủ yếu với chrysotile cho thấy lượng chrysotile vẫn thấp hơn so với nhóm amphibole (Albin và một số tác giả khác – 1994); kết luận các sợi ngắn hơn 5µm gây ra mức rủi ro rất nhỏ hoặc hầu như không có đối với sức khoẻ con người (Cơ quan Thống kê các chất độc và bệnh do chúng gây ra – 2003) và giới hạn 5µm được WHO sử dụng làm tiêu chuẩn biểu thị mô hình thống kê số lượng sợị; mô hình hóa lượng người tử vong dự tính do bệnh u trung biểu mô ở vương quốc Anh do tiếp xúc với amiăng trong suốt thế kỷ 20, có tính đến sự khác biệt giữa các loại sợi và nhận định rằng chrysotile đã không có một chút ảnh hưởng nào trong các mô hình này (Hodgson và cộng sự – 2005); kết luận những rủi ro mắc bệnh u trung biểu mô dễ thấy nhất là do việc tiếp xúc với amiăng nhóm amphibole (crocidolite và amosite) – nhóm sợi được sử dụng nhiều nhất vào những năm 60 và sau đó đã bị cấm (Weill và cộng sự – 2004).

Bên cạnh đó, con số người mắc bệnh liên quan đến sợi amiăng tại Việt Nam cũng không hoàn toàn thống nhất giữa các bộ ban ngành liên quan. Lúc thì “270 trường hợp tử vong do ung thư trung biểu mô” (báo cáo ThS Nguyễn Trinh Hương và ThS Nguyễn Thắng Lợi – Viện Bảo hộ lao động trong hội nghị khoa học “amiăng trong sản xuất – giải pháp an toàn và sức khỏe”; khi thì 300 người chết vì u trung biểu mô (http://www.thegioiphunu-pnvn.com.vn/Tin.aspx?varbaoid=1065&vartinid=5838&varnhomid=4); hay “theo điều tra về sức khỏe của những người lao động tiếp xúc với amiăng trong quá trình sản xuất gạch ngói xi măng – amiăng, thì mới có 4 trường hợp bị bệnh liên quan đến amiăng” (http://www.vnmedia.vn/NewsDetail.asp?NewsId=158778&Catid=23).

Kết quả nghiên cứu do Bệnh viện Xây dựng – Bộ xây dựng công bố năm 2004 cho thấy mức độ nguy hiểm gây bệnh nghề nghiệp trong ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng ở Việt Nam rất thấp. Chỉ có 4 trường hợp được ghi nhận bị nhiễm bụi phổi amiăng ở thể nhẹ (chiếm 0,4%) trong 1032 phim chụp từ số công nhân trực tiếp tiếp xúc với amiăng chrysotile từ 2 năm đến 28 năm. Đây là tỷ lệ thấp hơn nhiều so với một số ngành công nghiệp khác (0,08%)

Kết quả khám bệnh và chụp phim của Bệnh viện Xây dựng năm 2008 cho 564 công nhân ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng không phát hiện các tổn thương liên quan đến amiăng chrysotile. (Bệnh viện Xây dựng)

Tuy nhiên, theo ý kiến của bà Nguyễn Thị Liên Hương – phó phòng Sức khỏe nghề nghiệp và tai nạn thương tích – Cục Y tế Dự phòng và Môi trường – Bộ Y tế thì “sở dĩ có thông tin “đáng mừng” này (4 trường hợp mắc bệnh) chưa hẳn do không có bệnh nhân mà một phần cũng do các trang thiết bị y tế ở nước ta chưa đủ khả năng để phát hiện ra bệnh”. Lẽ nào công nghệ, máy móc của chúng ta ngày nay được trang bị hiện đại hơn thì lại phát hiện bệnh kém hơn? Và kết quả khám chụp của Bệnh viện trực thuộc bộ thì không đáng để tin cậy?

Tính đến thời điểm này, Việt Nam có khoảng 37 nhà máy sử dụng bình quân 60.000 tấn sợi chrysotile để làm tấm lợp fibro xi măng, tạo công ăn việc làm cho hơn 10.000 lao động. Tuy nhiên, việc sử dụng dây chuyền công nghệ lạc hậu vẫn còn tồn tại ở nhiều nhà máy gây phát tán bụi và ô nhiễm môi trường. Đây mới chính là mấu chốt của vấn đề liên quan đến sức khỏe con người mà các Bộ, Ban, Ngành liên quan cần có những hành động cụ thể để bảo vệ sức khỏe cho người lao động và các khu dân cư lân cận. Bởi vì, nguyên tắc sử dụng an toàn không chỉ được áp dụng cho mỗi ngành công nghiệp chrysotile mà cũng là nguyên tắc chung kiểm soát những nguy hại cho tất cả các sản phẩm và công nghệ có nguy cơ gây hại cho sức khỏe.

http://www.ktdt.com.vn/newsdetail.asp?NewsId=160136&CatId=55


Bài mới hơn