Công văn số 07 – Báo cáo và kiến nghị về vấn đề sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam.

Công văn số 07/BC-HHTLVN được Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam gửi cho các Bộ, Ban ngành, Chính Phủ và Quốc Hội về việc “Báo cáo và kiến nghị về vấn đề sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam.”

HIỆP HỘI TẤM LỢP VIỆT NAM

Số: 07/BC-HHTLVN

V/v: Báo cáo và kiến nghị về vấn đề sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

______________________

Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2019

Kính gửi: 

  • Đồng chí Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Trần Thanh Mẫn – Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

Đồng kính gửi:

  • Đồng chí Tòng Thị Phóng, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thường trực Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Trương Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Vương Đình Huệ, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao;
  • Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương;
  • Đồng chí Vũ Đức Đam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam;
  • Đồng chí Trịnh Đình Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam;
  • Thường trực Ban Bí thư;
  • Ban Tuyên giáo Trung ương;
  • Ban Kinh tế Trung ương;
  • Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
  • Bộ Tư pháp;
  • Bộ Xây dựng;
  • Bộ Công thương;
  • Bộ Y tế;
  • Bộ Khoa học và Công nghệ;
  • Bộ Tài nguyên và Môi trường;
  • Bộ Ngoại giao;
  • Bộ Lao động Thương binh và Xã hội;
  • Bộ Thông tin và Truyền thông;
  • Thanh tra Chính phủ;
  • Ủy ban Dân tộc Chính phủ;
  • Ủy ban Khoa học Công nghệ & Môi trường Quốc hội;
  • Ủy ban Các Vấn đề Xã hội Quốc hội;
  • Ủy ban Dân tộc Quốc hội;
  • Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
  • Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
  • Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
  • Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;
  • Chủ tịch 63 Tỉnh Thành phố;
  • Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội 63 Tỉnh Thành phố;
  • Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam;
  • Tổng hội Xây dựng Việt Nam;
  • Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam;

Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam (HHTLVN) là một tổ chức nghề nghiệp được thành lập từ năm 2000, đại diện cho 37 doanh nghiệp với hơn 5.000 người lao động trong ngành sản xuất tấm lợp fibro xi măng có sử dụng sợi amiăng trắng làm nguyên liệu đầu vào. Hiệp hội bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, là cầu nối giữa doanh nghiệp với chính quyền các cấp, đốc thúc doanh nghiệp thực hiện đúng theo quy định kinh doanh có điều kiện của pháp luật, hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tổ chức các khoá huấn luyện, đào tạo, các hội thảo, hội nghị chuyên đề, thu thập và cung cấp thông tin về những vấn đề có tác động đến ngành tấm lợp tới toàn thể hội viên.

Tấm lợp fibro xi-măng (hay còn được gọi là tấm amiăng xi-măng) được sản xuất tại Việt Nam từ những năm 1963. Qua gần 60 năm tồn tại, loại tấm này đã chứng minh được tính hữu dụng của nó khi có giá thành rẻ nhưng độ bền cao, phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của bà con có thu nhập thấp, các hộ chăn nuôi gia súc gia cầm… vì không bị ăn mòn trong điều kiện khí hậu sương muối ở miền núi hay ở vùng biển có độ mặn cao như miền Trung Việt Nam.

Tuy nhiên, gần 20 năm qua, ngành tấm lợp fibro xi-măng đang ngày càng đi xuống. Những chính sách không ổn định cùng các đề xuất ban hành lệnh cấm đã khiến doanh nghiệp hoạt động trong sự lo lắng, cầm chừng. Nhiều doanh nghiệp “sống dở chết dở”, một số đã đóng cửa, số khác chấp nhận thua lỗ chuyển đổi mô hình kinh doanh do bị ảnh hưởng quá lớn bởi hàng loạt các thông tin tiêu cực được tuyên truyền từ nhóm vận động cấm sử dụng amiăng trắng – loại sợi tự nhiên chỉ chiếm 10% trong phối trộn tấm lợp nhưng lại đóng vai trò quan trọng tạo nên sự kết dính và độ bền của loại tấm lợp này.

Từ 2.000 năm trước lịch sử đã ghi nhận sự tồn tại của amiăng trắng, dạng sợi tự nhiên có mặt trên 2/3 bề mặt vỏ Trái Đất. Môi trường không khí, đất và nước luôn chứa một lượng amiăng trắng nhất định. Với những đặc tính ưu việt như bền, dai, chịu nhiệt, chống cháy… sợi amiăng được ứng dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm fibrô xi-măng, các vật liệu cách điện, cách nhiệt, ngành ôtô, ngành hàng không, dược, dầu mỏ và hạt nhân, sản xuất vật liệu chống cháy, sản phẩm dệt may và một số ngành khác. Trong quá khứ, việc sử dụng sợi amiăng không đúng cách như phun, xịt gây phát tán bụi trong không khí cùng với điều kiện làm việc tồi tệ là nguyên nhân gây ra các bệnh về phổi cho công nhân. Những bệnh nhân mắc bệnh bụi phổi được phát hiện ngày hôm nay chính là kết quả của việc tiếp xúc với amiăng xanh và nâu từ 20 – 40 năm trước.

Những nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng amiăng nâu và xanh có cấu tạo dạng thẳng, nhám, hình kim và chu kỳ bán tiêu hủy chậm nên khi vào phổi sẽ gây ra các khối u, triệu chứng viêm. Sau 10 – 20 năm ủ bệnh, các khối u sẽ phát tác thành ung thư và các bệnh về phổi. Trong khi đó sợi amiăng trắng có dạng xoắn, xốp mềm khi thâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp sẽ bị đào thải ra khỏi phổi từ 0,3 – 11 ngày hoặc bị phân huỷ bởi môi trường axit do các đại thực bào tạo ra.

Việt Nam cũng giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới như Nga, Kazakhstan, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Phillipines, Singapore, Sri Lanka, Lào, Campuchia… từ quá khứ đến hiện tại chỉ sử dụng amiăng trắng.

90% lượng amiăng trắng hiện nay được dùng để sản xuất các sản phẩm amiăng xi măng (amiăng trắng chiếm từ 8 – 10%, xi-măng là 55%, tro bụi than thiên nhiên là 35%). Theo đó, các sợi amiăng trắng được gắn kết rất chặt chẽ với hạt xi măng trong suốt quá trình sản xuất, cùng với công nghệ xeo ướt và khép kín nên sợi khó có thể bị phân tán ra môi trường bên ngoài. Vì vậy, những rủi ro về sức khoẻ cộng đồng và môi trường cũng đã được giảm thiểu.

I. Khởi nguồn của chiến dịch vận động cấm sử dụng amiăng trắng

1.1 Chiến dịch vận động cấm amiăng trắng trên thế giới

Làn sóng phản đối chống lại việc sử dụng amiăng trắng đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới và có sự gắn kết chặt chẽ với mạng lưới tổ chức vận động, tạo sức ép lên các quốc gia. Thành lập từ năm 2000, Ban Thư ký Chống Amiăng Thế giới (IBAS), dẫn đầu bởi bà Laurie Kazan – Allen liên tục tác động đến các tổ chức trong nước và quốc tế để thông qua đó gây ảnh hưởng đến các quốc gia thành viên. Không phải ngẫu nhiên mà anh trai của Laurie, luật sư Steven Kazan, cũng là một luật sư kỳ cựu về các vấn đề liên quan đến amiăng. Công ty Luật Kazan Law với hơn 40 năm hoạt động đã thu về hàng triệu đô mỗi năm tiền luật phí cho những ca kiện tụng. Chính vì “ngành kinh doanh siêu lợi nhuận” này, các từ khoá liên quan đến amiăng trở thành một trong những từ khoá đắt giá nhất ở Mỹ khi các hãng luật sẵn sàng trả các khoản chi phí khổng lồ để quảng cáo dịch vụ của mình. Bên cạnh những công ty luật, một nhóm các quốc gia cũng đang hoạt động vô cùng tích cực trong cuộc chiến chống amiăng trắng, đặc biệt là Nhật Bản, Úc (với tổ chức APHEDA đang hỗ trợ tích cực cho các hoạt động chống amiăng trắng tại Việt Nam) và Hàn Quốc. Một điều rất trùng hợp là tại các quốc gia này đều có sự xuất hiện của những nhà cung cấp sợi PVA và tấm tôn, các loại vật liệu được các tổ chức này vận động sử dụng để thay thế cho tấm lợp fibro xi-măng – loại tấm đang chiếm thị phần lớn tại Việt Nam.

1.2 Chiến dịch vận động cấm amiăng trắng tại Việt Nam

Tại Việt Nam, chiến dịch vận động Chính phủ ban hành lệnh cấm sử dụng amiăng trắng đã bắt đầu từ những năm 2000. 18 năm qua, hàng nghìn các bài báo, các chương trình truyền hình đưa tin về sự độc hại của amiăng trắng, hàng trăm các cuộc Hội thảo, hội nghị được tổ chức để vận động kêu gọi ban hành lệnh cấm nhập khẩu và sử dụng amiăng, trước đó là thông qua Bộ ngành, nhưng 5 năm nay là thông qua các tổ chức Phi Chính phủ.

Mặc dù chưa tìm thấy ca bệnh ung thư trung biểu mô nào do amiăng trắng tại Việt Nam nhưng từ năm 2015 – 2017, Bộ Y tế đã đề xuất xây dựng “Kế hoạch hành động Quốc gia loại trừ các bệnh liên quan đến amiăng” nhằm “giảm tỷ suất mới mắc các bệnh do amiăng gây ra thông qua việc dừng sử dụng amiăng vào năm 2020; góp phần tăng cường sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của đất nước”.

Bộ Xây dựng mặc dù cũng đã nhận định là chưa có sự thống nhất cao về tác hại của amiăng trắng đối với sức khỏe con người, nhưng với quan điểm sức khỏe là vấn đề lâu dài nên đã có văn bản số 1170/BXD-VLXD ngày 24 tháng 5 năm 2017 gửi Văn phòng Chính phủ, nêu kiến nghị của một số thành viên tại văn bản của Hội Hóa học Việt Nam về việc dừng sử dụng amiăng trắng. Vì vậy Bộ Xây dựng đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho xây dựng lộ trình, đề xuất các giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp đang sản xuất vật liệu xây dựng có sử dụng amiăng trắng để các doanh nghiệp này chấm dứt sản xuất từ năm 2023.

2. Các tổ chức vận động cấm amiăng trắng tại Việt Nam

2.1 Tổ chức vận động cấm amiăng trắng tại Việt Nam (gọi tắt là VNBan)

VNBan là một tổ chức không chính thống được thành lập nhằm vận động Chính phủ Việt Nam ban hành lệnh cấm sử dụng amiăng trắng. VNBan là một nhánh của ABAN – Tổ chức vận động cấm amiăng trắng tại Châu Á và IBAS – Tổ chức vận động cấm amiăng trắng trên thế giới.

Thành viên của VNBan những ngày đầu thành lập gồm có:

  • Hội KHKT An toàn và vệ sinh lao động Việt Nam;
  • Hội Hóa Học Việt Nam;
  • Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS);
  • Nhóm hợp tác thúc đẩy phát triển chính sách y tế dựa vào bằng chứng (EBHPD);
  • Trung tâm Thông tin Tổ chức Phi chính phủ (NGO-IC).

Tuy nhiên, sau sự cố mà truyền thông gọi là “đánh tráo khái niệm” công bố khảo sát nước mắm truyền thống có chứa thạch tín nhằm mục đích khiến người tiêu dùng – chưa kịp sợ hãi và tẩy chay – mà đùng đùng nổi giận thì Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam đã lẳng lặng không còn là thành viên của VNBan.

Các bằng chứng thu thập được cho thấy phần lớn các hoạt động của VNBan được hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật, và chuyên gia từ Tổ chức Y tế Thế giới WHO, Tổ chức Lao động Thế giới – ILO, Tổ chức Nhân dân về y tế, giáo dục và phát triển hải ngoại Úc – APHEDA.

Theo đó, VNBan đã có cả một chiến lược tổng thể với rất nhiều các hoạt động, đặc biệt là tổ chức Hội thảo, Hội nghị nhằm thúc đẩy ban hành lệnh cấm amiăng trắng ở Việt Nam. Phát biểu gay gắt tại các Hội thảo, Hội nghị là nhiều Giáo sư, Tiến sỹ, chuyên gia – những người có thể chưa một lần nhìn thấy sợi amiăng trắng, chưa một lần đến thành phố Uralasbest yên bình có tuổi đời 125 năm bên cạnh mỏ khai thác amiăng, chưa bao giờ bước chân xuống khảo sát các nhà máy sản xuất tấm lợp fibro xi măng, chưa từng tiếp xúc với những người công nhân đã gắn bó cả cuộc đời mình với ngành – nhưng lại có những nhận định thiên kiến, chủ quan và mang tính áp đặt. Trong khi đó, HHTLVN, các nhà máy sản xuất tấm lợp là đối tượng trực tiếp có liên quan và bị ảnh hưởng thì thường không được mời tham dự các Hội thảo, Hội nghị vì HHTLVN và các nhà máy luôn có những ý kiến trái chiều và đòi hỏi các bên cần nhận định vấn đề amiăng trắng dựa trên bằng chứng khoa học. Mà bằng chứng khoa học chứng minh amiăng trắng gây ung thư ở Việt Nam thì VNBan không có.

Chiến dịch truyền thông diện rộng trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng từ trung ương đến địa phương với sự tài trợ của APHEDA, sự hỗ trợ của Liên đoàn Lao động tỉnh Nghệ An mang tên “Cộng đồng nói không với amiăng” đã diễn ra tại tỉnh Nghệ An thông qua việc thay thế tấm lợp fibro xi măng cho các hộ gia đình được lựa chọn bằng tấm tôn nhằm reo rắc sự sợ hãi trong bà con. Những ấn phẩm tuyên truyền được dán tại các nhà văn hoá địa phương đánh đồng amiăng trắng với amiăng nâu xanh, gây thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp.

2.2 Nguyên nhân nào khiến VNBan vận động ban hành lệnh cấm sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam một cách cực đoan

+ Vì lý do sức khoẻ của người dân?

Trong khi chưa một ca ung thư hay tử vong nào tại Việt Nam được xác định là do amiăng trắng, thì những nguyên nhân gây chết hàng chục ngàn người khác mỗi năm lại hoàn toàn không được những tổ chức này tham gia vận động ban hành lệnh cấm. Theo thống kê của WHO, hàng năm có 60,000 người chết vì ô nhiễm không khí tại Việt Nam[1] hay 79,000 người chết vì uống rượu bia vào năm 2016[2]. Riêng về ung thư phổi, Cơ quan nghiên cứu quốc tế về bệnh ung thư (IARC) – một thành viên của WHO – đã ghi nhận 20,710 ca tử vong tại Việt Nam vào năm 2018[3]. Trong những nguyên nhân chính dẫn đến ung thư được WHO ghi nhận bao gồm: Hút thuốc, uống rượu, béo phì, không hoạt động thể dục và sử dụng chất đốt không đúng cách. Nếu lấy sự cực đoan, tích cực và các nguồn lực của thành viên VNBan để vận động trong những lĩnh vực này thay vì để cấm một loại sợi tự nhiên chưa gây ra ca tử vong nào tại Việt Nam, có lẽ số ca tử vong vì ung thư tại Việt Nam đã giảm đi đáng kể.

Nói riêng trong ngành Vật liệu Xây dựng, Cục Quản lý Môi trường Y tế – Bộ Y tế thống kê đến năm 2015 “số người bị mắc các bệnh bụi phổi là 20,993 ca chiếm 74.2% và chủ yếu là bệnh bụi phổi – silic”[4]. Bụi phổi silic là tình trạng bệnh lý ở phổi do hít phải hạt silic xuất hiện trong ngành khai thác đá, sản xuất xi-măng, gạch chịu lửa, sản xuất đá mỹ nghệ, khai thác than, luyện kim…

Một trong những lý do luôn được các thành viên của VNBan viện dẫn là cấm amiăng trắng vì sức khoẻ của người dân. Nhưng tại sao lại vận động cấm amiăng trắng khi những ảnh hưởng đến sức khoẻ tại Việt Nam còn chưa được làm rõ trong khi các tác nhân độc hại khác được khoa học chứng minh về nguy cơ với sức khoẻ con người như ô nhiễm không khí, thuốc lá, thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản hay trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng như khai thác than, xi măng… lại không phải đối tượng trong hoạt động của các tổ chức này.

+ Cấm “theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới”

Một luận điểm cũng thường xuyên được các thành viên của VNBan đưa ra đó là tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo cần dừng sử dụng tất cả các loại amiăng vì chúng gây ung thư. Rằng“thế giới đã có nghiên cứu về vấn đề này, Việt Nam không cần nghiên cứu thêm mà cứ thế làm theo khuyến nghị của các tổ chức quốc tế. Thái độ tin tuyệt đối một nhóm vì cái uy vốn có của họ mà bác bỏ một nhóm khác dựa trên định kiến cá nhân với ngành công nghiệp không giúp Chính phủ nhìn nhận được bản chất sự thật. Nếu không cần làm nghiên cứu khoa học thì sao có thể cấp bằng GS.TS cho các thành viên của VNBan? Chúng ta càng tuyệt đối không thể giáo dục con trẻ ngành y rằng “thế giới đã nghiên cứu cho căn bệnh đó rồi, các con chẳng cần phải làm gì cho nhọc”.

Không chỉ riêng vấn đề amiăng trắng, những khuyến cáo của các tổ chức quốc tế đối với vấn đề môi trường, sức khoẻ, hành chính công hay nhân quyền… đều cần Chính phủ Việt Nam có những đánh giá toàn diện, dựa trên cơ sở pháp lý, các nghiên cứu khoa học và thực tiễn để từ đó ban hành chính sách, đưa ra phương thức quản lý phù hợp với thực trạng và điều kiện quốc gia.

Đây cũng chính là điều mà Đại Hội đồng Y tế thế giới (WHA) vào tháng 5/2007, đã hướng dẫn cần xem xét và áp dụng các “Phương pháp tiếp cận khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện các quốc gia” khi thí điểm khuyến cáo sử dụng các biện pháp loại bỏ bệnh liên quan đến amiăng.[5] Tương tự như trường hợp của 18,000 chai nước tương Chin-su của Công ty Masan mới bị thu hồi tại Nhật Bản do chứa acid benzoic. Nếu Việt Nam cũng cấm theo Nhật Bản, có lẽ sản phẩm này cũng cần ngay lập tức được thu hồi ở thị trường trong nước.[6]

Nhiều nhà vận động cấm amiăng trắng luôn nhắc đến việc amiăng trắng đã được Cơ quan nghiên cứu quốc tế về bệnh ung thư (IARC) xếp vào danh mục Nhóm 1 các chất gây ung thư cho người. Thế nhưng, họ không đề cập đến danh mục Nhóm 1 này cũng chứa rất nhiều yếu tố được cho là gây ung thư như thịt muối, cà-phê, ánh nắng mặt trời, làm việc đêm.[7] Thịt muối nằm trong Nhóm 1 vì được cho là có liên quan đến căn bệnh ung thư Đại trực tràng. Với 133,000 ca ung thư Đại trực tràng được chẩn đoán tại Mỹ vào năm 2018, con người liệu có nên dừng ăn thịt muối?[8]

+ Cấm vì tấm tôn và tấm sợi PVA có nhiều ưu điểm hơn?

Bên cạnh các lý do vì sức khoẻ, nhóm vận động cấm amiăng trắng cho rằng tấm tôn và tấm sử dụng sợi PVA có nhiều ưu điểm hơn tấm fibro xi-măng nên cần thay thế sang các loại tấm này. Thậm chí nhóm vận động khẳng định Việt nam đã có hai nhà máy thí điểm sản xuất sản phẩm sợi PVA thành công và xuất khẩu đi nước ngoài. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hai loại sản phẩm này không đáp ứng được nhu cầu sử dụng và phù hợp với điều kiện kinh tế của nhiều người dân Việt Nam.

Hai doanh nghiệp từng là dự án thí điểm của Nhật Bản, đầu tư sản xuất tấm sử dụng sợi thay thế PVA là Navifico và Tân Thuận Cường. Nhà máy Navifico đã đóng cửa được 2 năm và TGĐ nhà máy đã khẳng định những điểm yếu như chất lượng tấm dễ vỡ, giá thành cao tại kỳ họp thường niên của HHTLVN năm 2017. Ông Nguyễn Công Lý, phát biểu đính chính trước Hội nghị của các Uỷ Ban của Quốc Hội về việc VNBan nói Navifico đang sản xuất tấm PVA là “nói lăng nhăng vì công ty đã dừng sản xuất từ lâu rồi”. Đuối lý trước sự thật, VNBan lại lập luận việc dừng sản xuất do các công ty chuyển đổi không được ưu đãi về mặt chính sách. Có lẽ chính họ cũng không đi thực tế làng Vĩnh Châu, Sóc Trăng, nơi được Ngân hàng Thế Giới tài trợ 12,000 tấm PVA của Navifico vào năm 2004 nhưng năm vừa qua đã phải dỡ gần hết vì tấm lợp không chịu được môi trường ven biển. Hay chính họ cũng không xuống nhà máy thí điểm Tân Thuận Cường để biết rằng lô hàng có sợi PVA của họ, sau khi xuất khẩu sang Hàn Quốc, đã vỡ, hỏng khiến công ty không dám qua đó để xử lý và nhà máy hiện nay đã chuyển sang sản xuất tấm fibro xi măng để có đủ chi phí trang trải lương công nhân và duy trì hoạt động của nhà máy.

Xét về mặt sức khoẻ, sợi amiăng trắng đã có hàng trăm năm sử dụng và nghiên cứu trong khi đó loại sợi nhựa tổng hợp PVA mới được đưa vào sử dụng trên 10 năm, chưa được chứng minh an toàn với sức khoẻ con người, còn các sản phẩm từ sợi PVC đang bị cho rằng gây tiền tiểu đường và béo phì.[9]

Với trường hợp tấm tôn, Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam đã đi khảo sát thực tế các tỉnh miền núi từ ngày 13/2/2017 đến 11/1/2018 về việc sử dụng vật liệu lợp ở các tỉnh ven biển và miền núi. Kết quả thực tế và phản hồi của người dân cho thấy, tấm tôn giá rẻ chỉ có thời gian sử dụng trong khoảng 3 – 7 năm. Với thời tiết khắc nghiệt, sương muối, nồng độ mặn cao trong không khí, tấm tôn nhanh chóng bị hoen rỉ, cong vênh. Đặc biệt, những hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm phản ánh vấn đề axit trong phân lợn làm tấm tôn nhanh chóng bị ăn mòn chỉ sau 2 năm sử dụng. Xu hướng không lựa chọn tấm tôn để lợp tại các vùng biển miền Trung, vùng núi và Đồng bằng sông Cửu Long đã khiến cho nhiều doanh nghiệp sản xuất tôn lợp trong nước đang phải tìm cách thu hẹp thị trường.

HHTLVN đã nhiều lần đặt câu hỏi về lý do cho sự “tích cực” của VNBan khi vận động thay thế tấm fibro xi-măng bằng hai loại tấm lợp kể trên khi chúng không phù hợp với nhu cầu sử dụng và điều kiện của người dân Việt Nam, đặc biệt là người nghèo, sống ở vùng sâu vùng xa, ven biển. Khẳng định không nhận tài trợ từ nhóm lợi ích sợi PVA và tôn để vận động tuyên truyền cấm amiăng trắng, vậy VNBan lấy ngân sách từ đâu?

2.3 Phương thức vận động ban hành lệnh cấm sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam của VNBan

Thay vì sử dụng các bằng chứng khoa học để tranh biện về những vấn đề y tế công cộng thì các GS, TS, chuyên gia của VNBan hoặc là cố gắng đánh lạc hướng, nói về những thứ không liên quan hoặc tập trung tấn công cá nhân, lợi dụng tình cảm để lấy lòng người nghe.

+ Đánh lạc hướng

Là một phương thức vận động hiện đang rất hiệu quả của VNBan, đánh lạc hướng người nghe bằng cách sử dụng luận điểm tưởng chừng rất hợp lý nhưng thực ra lại không đủ hoặc không đúng về mặt khoa học. Tại các Hội nghị, hội thảo của mình VNBan cho rằng “Thế giới đã nghiên cứu bệnh về amiăng rồi, tại sao Việt Nam phải nghiên cứu nữa”; “hay người Việt Nam thể trạng cũng như các quốc gia khác, nếu họ mắc bệnh do amiăng thì Việt Nam cũng vậy”. Nhưng họ không hề đề cập đến rất nhiều nghiên cứu của thế giới được thực hiện cách đây 20-50 năm, khi amiăng amphibole và amiăng trắng được sử dụng lẫn lộn, thông qua hình thức phun, xịt và chưa có những quy định nghiêm ngặt về bảo hộ lao động như hiện nay. Họ cũng không nhớ rằng còn rất nhiều các quốc gia khác có lịch sử hàng trăm năm sử dụng amiăng trắng như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ… nơi vẫn còn những gia đình các đời cha truyền con nối làm việc trong mỏ amiăng trắng hay trong các nhà máy sản xuất tấm lợp có chứa amiăng trắng.

Khi những nghiên cứu do Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên & Môi trường, Bộ Xây dựng tiến hành gần 20 năm qua không tìm ra được trường hợp nào bị ung thư do tiếp xúc với amiăng trắng thì các thành viên của VNBan lại khẳng định do “hệ thống hồ sơ lưu trữ về công nhân tiếp xúc với amiăng trắng không liên tục” “trình độ của các nhà nghiên cứu Việt Nam chưa đủ để phát hiện ra bệnh nên các nghiên cứu trong nước không đáng tin cậy”. Nghiên cứu cấp Bộ: “Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng ở những người tiếp xúc” được thực hiện năm 2009 – 2011 do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, thông qua Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tài trợ cho Cục quản lý Môi trường Y tế – Bộ Y tế cũng thường xuyên bị phớt lờ dù kết quả trong số 447 trường hợp mắc các bệnh liên quan đến amiăng như bệnh ung thư phổi, mảng dày màng phổi và ung thư trung biểu mô thì chỉ có 39 mẫu bệnh phẩm sau sàng lọc được gửi sang Bệnh viện Hiroshima, Nhật Bản để chẩn đoán. Các chuyên gia Nhật Bản cuối cùng đã xác định chỉ có 08 trường hợp thực bệnh, trong đó không có trường hợp nào có tiền sử rõ ràng tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng. Thậm chí trên nhiều diễn đàn, các GS.TS còn sử dụng chiêu bài “nói một nửa sự thật”, đưa ra những con số hàng trăm trường hợp bị ung thư trung biểu mô và dừng lại ở đó để mọi người tự hiểu là do amiăng trắng mà không thiếu đi một nửa sự thật còn lại “không phải trường hợp nào bị ung thư trung biểu mô cũng là do amiăng” hoặc “không tìm thấy mối liên hệ nào của các trường hợp bệnh này có liên quan đến amiăng”.

HHTLVN luôn trăn trở vấn đề amiăng trắng đã gây ra nhiều tranh cãi từ hơn 20 năm nay ở Việt Nam, vậy ngần đó năm chúng ta vẫn chưa có hệ thống lưu trữ hồ sơ công nhân các nhà máy sản xuất tấm lợp fibro xi măng thì bao giờ mới có? (Trên thực tế Bệnh viện Xây dựng đã có phần mềm lưu trữ hồ sơ của các công nhân từ nhiều năm nay nhưng chắc cũng không được công nhận). Nếu 20 năm qua mà trình độ nghiên cứu của Việt Nam vẫn không đáng tin cậy thì bao giờ mới có thể làm được những nghiên cứu có sự tin cậy? Nếu những quốc gia phát triển như Nhật Bản đã hỗ trợ Bộ Y tế Việt Nam làm nghiên cứu mà vẫn không được ghi nhận thì nước nào hỗ trợ mới có kết quả đáng ghi nhận? Nếu nước Úc, Nhật Bản có nhiều kinh nghiệm trong tìm kiếm, ghi nhận và đền bù cho bệnh nhân ung thư trung biểu mô thì sao trong những chương trình hỗ trợ loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng họ chỉ tập trung vào truyền thông, vận động chính sách mà không hỗ trợ tìm kiếm, nghiên cứu các trường hợp bệnh?

Chỉ có khoa học mới có thể phản biện lại khoa học. Chúng ta có thể phê phán phương pháp luận hay phân tích kết quả của một nghiên cứu bằng các phương pháp luận hoặc các minh chứng khoa học khác nhưng chúng ta không thể nói suông một cách cố chấp rằng vì tôi thấy năng lực nghiên cứu của anh không đủ nên tôi cứ không công nhận nó.

+ Tấn công cá nhân

Khi những bằng chứng khoa học không còn đứng về phía mình, các văn bản và tài liệu truyền thông của VNBan chuyển hướng sang tấn công cá nhân những người ủng hộ việc sử dụng an toàn và có kiểm soát amiăng trắng.

Thông qua kênh mạng xã hội facebook, các Giáo sư, Tiến sỹ của VNBan không ngần ngại đưa ra những phát ngôn với lời lẽ cực đoan nhằm tạo sức ép và chỉ trích lên các cá nhân. Những người mà họ gọi là “đồng chí” trong các văn bản chính thống đã trở thành người đeo “mặt nạ đại biểu quốc hội làm “loa” cho nhóm thủ lợi amiăng”[10], “những kẻ giết người không súng”, “các nhóm lợi ích đã xúi giục Thủ tướng Chính phủ cho tiếp tục sử dụng amiăng trắng” hay “Chính phủ hiện đang bị thao túng bởi các nhóm lợi ích”.

Những nhà máy đang kinh doanh theo quy định của pháp luật, đóng thuế đầy đủ cho địa phương và tạo công ăn việc làm cho người lao động bị gọi là “doanh nghiệp phi nhân bản”. HHTLVN tự hỏi vậy những tổ chức, con người vì tiền tài trợ từ nước ngoài mà sẵn sàng bất chấp các bằng chứng khoa học, cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn sử dụng tấm lợp tại Việt Nam gần 60 năm qua, khiến doanh nghiệp lao đao đóng cửa, bao nhiêu người lao động mất việc thì có nhân bản chăng?

Thậm chí những người như Giáo sư David Bernstein[11], Tiến sỹ Robert P. Nolan[12] – hai nhà nghiên cứu khoa học với hai công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của sợi amiăng trắng với sức khoẻ con người cũng bị coi là thuộc nhóm lợi ích và không đáng tin cậy bất chấp những nghiên cứu này đều được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín có hệ thống bình duyệt (peer-reviewed). Ngay chính Cơ quan nghiên cứu quốc tế về bệnh ung thư (IARC) đã công nhận nghiên cứu của hai nhà khoa học này là uy tín và sử dụng chúng cho bản Chuyên khảo về các chất gây ung thư của IARC.

+ Gây thương cảm để lấy lòng người nghe

Các GS.TS của VNBan đã hung hãn phát huy triệt để mô tuýp gây thương cảm để lấy lòng người nghe bất chấp những trường hợp đó không hề tồn tại trong thực tế hoặc không hề liên quan đến amiăng trắng. Họ đã mời hai cựu chiến binh ở Khu Chợ Sáng, Phố Lục Đầu Giang, Phường Phả Lại, Chí Linh, Hải Dương – nơi ghi nhận số ca ung thư cao bất thường trong vài năm trở lại đây đến khóc lóc phát biểu tại Hội nghị do họ tổ chức và khẳng định do sống cạnh nhà máy tấm lợp fibro xi măng nên đã bị ảnh hưởng. Một đại biểu khi nghe xong đã vô cùng đau đớn lên tiếng “30/100 người đã chết, người khác đang ủ bệnh – chúng ta phải cứu người còn lại. Chồng, con anh chết thì làm thế nào? Dù thế nào cũng cần có tiền bồi thường”. Họ hoàn toàn phớt lờ rằng bên cạnh nhà máy tấm lợp fibro xi măng hoạt động từ năm 1994 đến 2011 (hiện đã đóng cửa) còn có nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm được xây dựng từ năm 1975 và theo lời chị Nguyễn Hoàng Phượng (Pan Nature) tại hội thảo ngày 23/12/2014, ở Hải Dương có tận 6 nguồn ô nhiễm. Sau hội thảo, hàng loạt các báo đều đưa tin về việc làng ung thư là do có nhà máy sản xuất tấm lợp có sử dụng amiăng trắng.

Thậm chí, một TS thành viên của VNBan còn khẳng định cần có điển hình về 1-2 làng bị ung thư cả làng để cảnh báo, không cần biết có phải thực chất do amiăng không nhưng những làng đó ở cạnh nhà máy amiăng, cứ đổ tội là do nhà máy…”

Ông Nguyễn Quốc Quang khi nói về ảnh hưởng của amiăng trắng tới sức khoẻ con người thì nhân tiện chia sẻ thêm câu chuyện gia đình có người nhà đang phải nằm điều trị ung thư ở bệnh viện tiêu tốn hàng trăm triệu đồng mỗi tháng (nhưng không rõ là ung thư gì).

Trong bao nhiêu năm qua, khi các doanh nghiệp sản xuất tấm lợp fibro xi măng bằng các hành động thiết thực của mình, tài trợ tấm lợp cho các tỉnh thành mỗi khi có bão lụt, cùng với báo Dân trí tài trợ mái lợp cho trường học của huyện nghèo trên miền núi, cung cấp hành triệu m2 tấm cho người nghèo, người có thu nhập thấp thì VNBan chỉ nói suông “người nghèo đã nghèo lại còn phải sử dụng tấm lợp amiăng, gặp nguy cơ mắc ung thư, không có tiền chữa trị, càng làm tình cảnh ngặt nghèo hơn”.

Không tham gia vào bất cứ nghiên cứu khoa học nào liên quan đến amiang trắng, không có bất cứ hành động thiết thực nào giúp bà con (chỉ giúp tài trợ mái tôn và thay mái cho một vài hộ thí điểm ở Nghệ An, rồi mặc đồ bảo hộ như chuẩn bị lên sao hoả, đeo mặt nạ phòng độc để quay phim, chụp ảnh truyền thông cho công chúng sợ hãi), không mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp và người lao động, VNBan bịa đặt ra các ca ung thư và quy chụp là do amiăng mà không có bằng chứng khoa học thực sự… phản khoa học.

III. Cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp sản xuất tấm lợp fibro xi măng sử dụng amiăng trắng có điều kiện

Amiăng trắng hiện đang được pháp luật Việt Nam cho phép sử dụng có điều kiện tại các văn bản: Luật Hóa chất (Khoản 1, Điều 8 Nghị định số 113/2017/NĐ-CP); Luật số 3/2016/QH13 Luật sửa đổi Điều 6 và phụ lục số 4 về danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của Luật Đầu tư; Luật Chuyển giao công nghệ (Nghị định số 76/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018); Khoản 1, Điều 7 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13; Điều 32, Nghị định 24a/2016/NĐ-CP về quản lý vật liệu xây dựng; Khoản 12, điều 2, Nghị định 81/2017/NĐ-CP; Khoản 8 Điều 2 Nghị định số 98/2017/NĐ-CP.

Các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ: số 7232/VPCP-KGVX ngày 11/07/2017 về đánh giá tình hình sử dụng amiăng trắng trong sản xuất tấm lợp, đề xuất lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng phù hợp với việc tìm vật liệu tấm lợp thay thế, đáp ứng yêu cầu và khả năng chi trả của người dân, văn bản số 7772/VPCP-KGVX ngày 16/8/2018 và văn bản số 8604/VPCP-KGVX ngày 08/9/2018.

Quan điểm của Bộ Tư pháp trong văn bản góp ý cho đề án của Bộ Xây dựng: Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 thì lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng để chấm dứt sản xuất tấm lợp amiăng không thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ.

Vì vậy, các đề xuất “Lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng để chấm dứt sản xuất tấm lợp amiăng từ năm 2023” của Bộ Xây dựng và đề xuất cấm sử dụng amiăng trắng tại Việt Nam vào năm 2020 trong “Kế hoạch Hành động Quốc gia loại trừ các bệnh có liên quan đến amiăng giai đoạn đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030” của Bộ Y tế là trái với các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép sử dụng amiăng trắng có điều kiện, không phù hợp với Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và không phù hợp với chức năng nhiệm vụ được Chính phủ quy định cho hai bộ. Những việc làm đó đã gây thiệt hại vô cùng to lớn cho các doanh nghiệp và người lao động ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng.

IV. Cơ sở nghiên cứu khoa học của việc sử dụng amiăng trắng có điều kiện

4.1 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của amiăng trắng trên thế giới

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học: Đức, Áo, Úc, Hoa Kỳ, Canada đều không phát hiện bụi sợi amiăng trong các khu dân cư có mái lợp bằng tấm lợp amimăng xi măng.

Các nghiên cứu của quốc tế đều cho thấy các bệnh liên quan đường hô hấp, sức khỏe và tuổi thọ của người dân có tiếp xúc với amiăng trắng trong sản xuất và sử dụng sản phẩm không khác những người hoàn toàn không tiếp xúc với amiăng trắng:

  • Nghiên cứu của nhà khoa học Weill, H., Hughes, J. and Waggenspack, C. (1979) – American Review of Respiratory Disease 120(2):345-354.
  • Nghiên cứu trong 39 năm về tỷ lệ tử vong của công nhân bị phơi nhiễm với amiăng trắng ở Hy Lạp của L. Sichletidis D., Chloros D., Spyratos A.-B., Haidich I., Fourkiotou M., Kakoura D. and Patakas (2008).
  • Các kết quả nghiên cứu của Thomas công bố năm 1982 (Vương Quốc Anh).
  • Nghiên cứu của Gardner, M.J., Winter, P.D., Pannett, B. and Powell, C.A. (1986).

Nghiên cứu của Tiến sĩ Jques Dunnigan (Canada) (2014) về đề tài: “Những nghiên cứu dịch tễ học và độc học về các loại sợi amiăng trắng và rủi ro khi tiếp xúc”. Kết quả nghiên cứu cho thấy amiăng trắng an toàn hơn so với amiăng nâu và xanh, và khi amiăng trắng được sử dụng có kiểm soát, sẽ giảm thiểu các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và người sử dụng.

Tương tự, các nghiên cứu về nồng độ sợi amiăng trong không khí ở các khu vực có nhiều mái lợp bằng tấm lợp amiăng xi măng ở Úc, Đức, Áo đều cho rằng nồng độ amiăng không có sự khác biệt với nồng độ amiăng vốn có trong tự nhiên là 0,001 sợi/cc – mức được WHO, Ủy ban amiăng Hoàng gia Ontario và Hội Hoàng gia London đánh giá lần lượt là “có thể chấp nhận được”, “không đáng kể” và “… không có cơ sở để kiểm soát thêm”.

Nghiên cứu của Tiến sĩ David Bernstein (Thụy Sỹ) (2013) về đề tài: “Rủi ro sức khỏe của amiăng trắng”, đã làm rõ sự khác biệt giữa amiăng xanh, nâu (đã bị cấm) và amiăng trắng. Amiăng trắng có hình trụ, gồm các tiểu sợi chrysotile bó với nhau thành sợi và dễ bị phân hủy trong môi trường axit (von Kobell, 1834; Pundsk và cộng sự, 1988); mặt ngoài của cấu trúc tinh thể amiăng xanh, nâu giống như thạch anh và có sự bền hóa học của thạch anh. Vì vậy, amiăng xanh, nâu gần như không tan trong môi trường axit của cơ thể (Speil và Leineweber, 1969). Tiến sĩ Bernstein kiến nghị: Công nhận sự khác nhau giữa 2 loại sợi khoáng là cần thiết khi thực hiện các phương thức bảo vệ sức khoẻ công nhân. Ngày nay, chỉ có amiăng trắng được sử dụng chủ yếu trong phối trộn với xi măng tạo ra độ kết dính cao. Rủi ro ung thư khi phơi nhiễm với sợi amiăng xanh và nâu rất nghiêm trọng và việc sử dụng amiăng xanh, nâu trong quá khứ đã để lại hậu quả đến ngày nay. Như vậy, nếu không phân biệt loại sợi và sự khác biệt về khả năng gây bệnh, ta không thể loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng một cách hiệu quả.

4.2 Những nghiên cứu khoa học trong nước về ảnh hưởng của amiăng trắng đến sức khỏe con người

Năm 2002 – 2003, Trung tâm Y tế Xây dựng (nay là Bệnh viện Xây dựng) thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình bệnh bụi phổi amiăng và ung thư nghề nghiệp ở các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng – xi măng”, đề tài nhánh của đề tài độc lập cấp Nhà nước “Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường các cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng xi măng và những ảnh hưởng của amiăng đối với sức khỏe con người – Kiến nghị các giải pháp” do Đại học Xây dựng chủ trì. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình sức khỏe của 1,032 công nhân có tuổi nghề trên 5 năm của 10 cơ sở sản xuất tấm lợp amiăng xi măng (đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam với 3 loại công nghệ hiện đại, bán hiện đại, thủ công) và 14 công nhân hưu trí có tuổi nghề trên 30 năm, đã cho thấy (1) Bệnh bụi phổi amiăng chỉ có 4 ca/1,032= 0.39% trong số công nhân nguy cơ cao, nếu tính tỷ lệ bệnh trên tổng số công nhân sản xuất tấm lợp amiăng xi-măng thì tỷ lệ này là 0.08% và đây là một tỷ lệ rất nhỏ so với nguy cơ bệnh bệnh bụi phổi – silic (6.7%) và các bệnh nghề nghiệp khác (2) Chưa phát hiện thấy trường hợp nào có các tổn thương lành tính khác liên quan đến amiăng như mảng màng phổi, dày và can-xi hoá màng phổi (3) Chưa phát hiện được trường hợp nào có các bệnh ác tính như ung thư phổi phế quản và ung thư trung biểu mô trong số công nhân đã khám (4) Hồi cứu hồ sơ các trường hợp ung thư biểu mô đã chẩn đoán ở Bệnh viện K – Hà Nội và Bệnh viện Ung bướu Phạm Ngọc Thạch – TP. Hồ Chí Minh từ năm 1991 – 2001 cũng chưa đủ căn cứ kết luận có trường hợp nào liên quan đến sản xuất tấm lợp fibro xi măng ở Việt Nam.

Trong 10 năm qua (2008-2018) Bệnh viện Xây dựng – Bộ Xây dựng đã triển khai chương trình khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, đo kiểm tra môi trường lao động cho các đơn vị sản xuất tấm lợp fibro xi măng với các nội dung được thực hiện đúng theo hướng dẫn của Bộ Y tế về khám phát hiện bệnh nghề nghiệp và đo môi trường lao động. Kết quả hội chẩn 10 năm liên tiếp được công bố bởi Hội đồng đọc phim uy tín cho thấy: Không phát hiện tổn thương điển hình của bệnh bụi phổi liên quan đến amiăng chrysotile.

Năm 2014 – 2016, Bệnh viện Xây dựng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Xây dựng: Nghiên cứu ảnh hưởng của amiăng trắng đối với sức khỏe người lao động tại các đơn vị sản xuất và người sử dụng tấm lợp amiăng xi măng”. Đề tài đã tiến hành điều tra trên 2,459 công nhân làm việc trực tiếp tại 32 cơ sở sản xuất tấm lợp fibro xi măng đang hoạt động trên toàn quốc và 100 công nhân sản xuất tấm lợp fibro xi măng đã nghỉ hưu có tuổi nghề tiếp xúc trực tiếp trên 30 năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Chưa phát hiện trường hợp công nhân nào có tổn thương bụi phổi amiăng và các tổn thương ác tính liên quan đến amiăng như ung thư phổi, ung thư trung biểu mô. Không phát hiện ra trường hợp nào có tổn thương mảng màng phổi. Khảo sát môi trường tại 30 vị trí khu vực nhà dân xã Tân trịnh, huyện Quang Bình, Hà Giang cho kết quả không phát hiện ra sợi amiăng trong các mẫu đo.

Đối với người sử dụng tấm lợp fibro xi măng, nghiên cứu đã tiến hành điều tra thực trạng sức khỏe và tỷ lệ tử vong của người dân xã Tân Trịnh, huyện Quang Bình, Tỉnh Hà Giang – nơi có 69.4% số hộ dân sử dụng tấm lợp fibro xi măng làm mái lợp. Kết quả nghiên cứu bước đầu về tình hình ung thư và tỷ lệ tử vong tại xã Tân Trịnh cho thấy: Tỷ suất tử vong thô tại Quang Bình, Hà Giang ở mức trung bình so với các vùng khác tại Việt Nam và trên thế giới; Nguyên nhân tử vong trong cộng đồng không cho thấy sự bất thường; Tỷ suất tử vong do ung thư hàng năm của toàn huyện từ 0.63‰ – 1.26‰; Tình hình tử vong tại xã Tân Trịnh có tỷ suất tử vong thấp hơn so với toàn huyện, là xã có tỷ suất tử vong do ung thư đứng thứ 5 trong 13 xã thuộc huyện Quang Bình (0.858‰).

Trong 2 năm 2010 – 2011, Cục Quản lý Môi trường Y tế – Bộ Y tế đã tiến hành triển khai đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Nghiên cứu các bệnh liên quan đến amiăng ở những người tiếp xúc”. 447 trường hợp bệnh có liên quan đến amiăng (ARD) như bụi phổi – amiăng, ung thư phổi, ung thư trung biểu mô, dày màng phổi, mảng màng phổi, can-xi hóa màng phổi đến chẩn đoán điều trị tại 06 Bệnh viện: Bệnh viện K Trung ương; Bệnh viện Ung bướu TP.Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phổi Trung ương, Bệnh viện Chợ Rẫy TP.HCM, Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch TP.HCM và Bệnh viện 103 – Học viện Quân y. Kết quả cho thấy “Mối liên quan tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng ở những đối tượng trong nghiên cứu còn thấp và chưa rõ ràng”, cụ thể: 46/447 trường hợp được chẩn đoán Mesothelioma màng phổi, chiếm 10.29%, trong đó có 06 trường hợp liên quan đến amiăng (ở nhà có mái lợp amiăng – xi măng, nhà ở gần mỏ serpentin), không có trường hợp nào tiếp xúc nghề nghiệp với amiăng; 34/401 trường hợp thuộc nhóm bệnh liên quan đến amiăng khác có liên quan đến amiăng, chiếm 8.48 %, trong đó có 3.74% có nghề nghiệp liên quan đến amiăng và 4.74 %  là ở nhà có mái lợp amiăng xi-măng. Trong 39 mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán Mesothelioma của Việt Nam gửi sang Nhật Bản được chuyên gia xác định 08/39 trường hợp là Mesothelioma, chiếm 20.51% và không có trường hợp nào có tiền sử tiếp xúc với amiăng.

Hồ sơ quốc gia về sức khỏe nghề nghiệp liên quan đến amiăng (HSQG về amiăng) được Viện nghiên cứu KHKT- Bảo hộ lao động (Viện BHLĐ) thực hiện là một nhiệm vụ trong dự án: “Bảo vệ sức khoẻ người lao động” do Cục Quản lý môi trường y tế, Bộ Y tế chủ trì thực hiện trong 3 năm 2009-2011. Đây là dự án được chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua Tổ chức Y tế Thế giới, WHO. Năm 2009, Viện BHLĐ bắt đầu triển khai xây dựng HSQG về amiăng dựa theo hướng dẫn của WHO/ILO có 19 mục, bao gồm: các văn bản pháp luật liên quan đến amiăng, nhập khẩu amiăng và sản phẩm chứa amiăng, khai thác amiăng, các ngành sản xuất sử dụng amiăng, môi trường lao động, tổng số người lao động (NLĐ) tiếp xúc với amiăng, các bệnh liên quan đến amiăng và các công trình nghiên cứu. Năm 2010, HSQG về amiăng tiếp tục được cập nhật thông tin với các điều tra thêm về NLĐ trong ngành sửa chữa và đóng tàu thuỷ, sửa chữa nồi hơi – những ngành nghề có sử dụng amiăng trong bảo ôn đường ống dẫn nhiệt. Năm 2010 cũng tập hợp được danh sách tất cả NLĐ, tuổi đời, tuổi nghề của họ trong ngành sản xuất tấm lợp AC, khai thác quặng secpentin và sản xuất má phanh, xây dựng cơ chế thu thập số liệu liên quan đến amiăng và năng lực các cơ sở y tế địa phương có khả năng giám sát môi trường và sức khoẻ NLĐ tiếp xúc với amiăng. Kết luận của hồ sơ quốc gia về amiăng đã nêu rõ: trong số các phim chụp X quang và CT scanner cho người lao động tiếp xúc với amiăng từ năm 2004 đến 2012, chưa phát hiện được các bệnh liên quan đến amiăng.

V. Cơ sở thực tiễn của việc sử dụng amiăng trắng có điều kiện

5.1 Thực tiễn sử dụng amiăng trắng trên Thế giới

Hiện nay đang còn 139 quốc gia và vùng lãnh thổ chưa cấm amiăng trắng, trong đó có các G7 và G20 như Mỹ, Canada, Liên Bang Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á.

Ở Mỹ: Năm 1991 Tòa thượng thẩm Hoa Kỳ đã hủy bỏ lệnh cấm và lệnh bãi bỏ dần amiăng trắng vì thiếu chứng cứ thuyết phục và chưa tìm được sản phẩm thay thế hữu hiệu. Hiện nay ở nước Mỹ đang được phép sử dụng các sản phẩm chứa amiăng xi măng gồm: tấm amiăng xi măng dạng phẳng và dạng sóng, tấm lợp mái amiăng xi măng, các sản phẩm dệt may, băng keo, gạch lát, ống amiăng xi măng, vật liệu ma sát, các loại má phanh và các chi tiết đệm….

Liên bang Nga: Ở nước Nga hiện nay vừa khai thác chế biến amiăng trắng vừa sử dụng amiăng trong nhiều lĩnh vực. Liên bang Nga hiện có 16 nhà máy sản xuất các sản phẩm amiăng xi măng, hàng năm sản xuất khoảng 300 triệu m2 tấm sóng, tấm phẳng dùng làm tấm lợp, ốp tường, ốp trần, đáp ứng 52% nhu cầu tấm lợp thị trường Nga và 12.000 km đường ống amiăng xi măng quy tiêu chuẩn dùng trong cấp nước nóng, nước lạnh, thoát nước mưa, tưới tiêu, cấp gas, thoát rác.

Thành phố Asbet – Liên bang Nga có 80,000 dân được xây dựng cách đây hơn 125 năm. Thành phố nằm sát cạnh mỏ Uranasbest, được thiết kế hiện đại theo phong cách Nga: phố rộng, rừng cây nhiều, nhà 3 đến 5 tầng lợp toàn bằng tấm lợp amiăng xi măng, hệ thống cấp nước sinh hoạt, nước nóng, thoát nước đều bằng ống amiăng xi măng. Tuổi thọ trung bình (e00) tương tự như các khu vực khác của nước Nga. Mức chết nằm trong khung chung của nước Nga và thấp hơn so với các khu vực khác của tỉnh Sverlovsk và không ghi nhận thấy các trường hợp tử vong có nguyên nhân là bụi amiăng ở Asbest.

Yasniy là thị trấn 58 năm tuổi thuộc tỉnh Orenburg với dân số khoảng 20,000 người, trong đó 4,500 người là nhân viên của công ty Khoáng sản Orenburg hoặc các doanh nghiệp liên quan đến ngành nghề amiăng. Thị trấn được thành lập với 2 mục đích: phục vụ cho khai thác amiăng trắng và là khu vực quân sự, lưu trữ tên lửa. Là thị trấn trẻ, Yasniy có tỷ lệ sinh cao nhất trong tỉnh Orenburg, trong khi tỷ lệ tử vong chỉ bằng ½ so với toàn tỉnh, số người ở tuổi nghỉ hưu chỉ chiếm khoảng 15% dân số. Theo khẳng định của bác sĩ trưởng Yasniy, trong 56 năm qua, chưa có người lao động hoặc người dân sống trong thành phố này bị ung thư bởi amiăng mặc dù khoảng cách từ Mỏ amiăng Orenburg tới khu dân cư rất gần, chỉ khoảng 10 km. Thị trấn có khu tập thể, các ngôi nhà được làm hầu hết bằng vật liệu từ ami ăng xi măng như: mái lợp, tấm trần, tấm ốp trong, tấm ốp ngoài, đường ống cấp nước sinh hoạt.

Tại Ấn Độ: Đây là một quốc gia sử dụng amiăng trắng lớn của Thế giới, hằng năm Ấn Độ nhập khẩu amiăng trắng khoảng 460 nghìn tấn/năm.

Tại Trung Quốc: Trung Quốc sử dụng hằng năm 550 nghìn tấn amiăng trắng, trong đó 2/3 amiăng trắng trong nước còn 1/3 là nhập khẩu.

Tại Brazil: Brazil là một quốc gia sản xuất và tiêu thụ amiăng trắng hàng đầu thế giới với mỏ lớn nhất khai thác trung bình 300,000 tấn năm vào năm 2012, trong đó 54% dùng nội địa và 46% xuất khẩu. Hiện có khoảng 3,000 sản phẩm được sản xuất từ amiăng trắng vẫn đang được sử dụng, chủ yếu là sản phẩm amiăng xi măng, vật liệu ma sát, công nghiệp dệt, nhựa, hóa chất và nội thất. Tại Brazil có đến hơn 60% dân số nước này sử dụng nước sinh hoạt từ các ống nước và bình chứa nước được làm từ amiăng xi măng. Brazil hiện vẫn còn 20 nhà máy đang sản xuất các sản phẩm amiăng xi măng với tổng sản lượng hàng năm đạt 168 triệu m2 tấm lợp amiăng xi măng.

Tại Đức: Cộng hòa Liên bang Đức hiện vẫn còn vận hành, khai thác hơn 50 ngàn km đường ống bằng amiăng xi măng cho hệ thống cấp nước sạch; các tài liệu kỹ thuật của Cộng hòa Liên bang Đức khẳng định rằng chất lượng nước vận chuyển bằng đường ống amiăng xi măng đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt của Đức. Điều đó khẳng định rằng sống dưới các mái nhà lợp bằng tấm lợp aimăng xi măng và uống nước vận chuyển trong đường ống nước amiăng xi măng là an toàn.

5.2 Thực tiễn sử dụng amiăng trắng ở Việt Nam.

Ở Việt Nam hiện nay, tấm lợp amiăng xi măng là loại tấm lợp hữu dụng, có nhu cầu lớn đối với nông dân vùng sâu, vùng xa, vùng ven biển, những hộ gia đình có thu nhập thấp. Đặc biệt khi cần khắc phục hậu quả thiên tai bão lụt, các thảm họa thiên nhiên hoặc các tình huống khẩn cấp thì tấm lợp amiăng xi măng là mặt hàng rất có hiệu quả, dễ huy động, giá rẻ, dễ dàng, đơn giản để tạo ra chỗ ở tạm tránh mưa, nắng, giữ ấm cho người, chỗ trú ngụ cho gia súc và kho chứa nông sản. Sản phẩm tấm lợp amiăng xi măng rẻ tiền nhưng bền, nhẹ, chất lượng tốt, cách nhiệt, mưa không ồn, nắng ít nóng, không bị mọt, hoen gỉ, phù hợp với khí hậu ven biển có độ mặn cao. Ngành sản xuất tấm lợp AC đã có những đóng góp hiệu quả cho các chương trình xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai của Chính phủ.

Việt Nam đã từng có 40 nhà máy với 53 dây chuyền, tổng công suất thiết kế 105 triệu m²/ năm; sản lượng đạt khoảng 60 – 80 triệu m²/năm; lượng tiêu thụ đạt khoảng 50 – 80 triệu m²/năm. Ngoài lĩnh vực sản xuất tấm lợp amiăng xi măng, còn một số lĩnh vực khác cũng sử dụng amiăng trắng như sản xuất má phanh, gioăng, phớt chịu nhiệt, vật liệu bảo ôn, chịu nhiệt cho ngành nhiệt điện, đóng tàu, áo cứu hỏa.

5.3. Thực tế về nghiên cứu sản xuất tấm lợp không amiăng tại Việt Nam

Kết quả của đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC-06 “Nghiên cứu thiết kế chế tạo và thử nghiệm dây chuyền sản xuất tấm lợp không amiăng công suất 500.000 m2/năm”, áp dụng cho nhà máy Tấm lợp Việt Nhật – Nghệ An thì kết quả là nhà máy dẹp bỏ công nghệ này và chuyển sang sử dụng sợi amiăng trắng để sản xuất và đã đóng cửa từ năm 2016.

Dự án cấp nhà nước KC.03.DA 03/11-15 “Hoàn thiện công nghệ chế tạo dây chuyền sản xuất tấm sóng, tấm phẳng không amiăng công suất 3 triệu m2/năm”, áp dụng cho Công ty Cổ phần Tân Thuận Cường – Hải Dương và nhân rộng cho Công ty Cổ phần Navifico – TP Hồ Chí Minh, thì thực tế là Công ty Tân Thuận Cường từ năm 2008 đã chuyển sang sử dụng amiăng trắng để sản xuất (mỗi năm chỉ sản xuất khoảng 5% công suất tấm lợp không amiăng theo đơn đặt hàng), còn Công ty Navifico đi vào sản xuất từ năm 2014, mỗi năm sản xuất khoảng 5% công suất thiết kế tấm lợp không amiăng và đã đóng cửa năm 2017.

Đây là những bài học cần được rút kinh nghiệm trong việc nghiệm thu, đánh giá, truyền thông, quảng bá đưa các kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu xã hội.

Hiện tại chưa tìm được sợi thay thế amiăng trắng để sản xuất tấm lợp không amiăng hiệu quả. Những kết quả nghiên cứu sử dụng sợi PVA thay amiăng trắng cho thấy tính công nghệ của PVA kém, dẫn đến công nghệ sản xuất phức tạp hơn, đầu tư lớn hơn, chất lượng, tuổi thọ của tấm lợp PVA thấp hơn tấm lợp AC, tính chống thấm thấp hơn, suy giảm cường độ nhanh hơn trong môi trường nóng ẩm nhiệt đới, giá cả cao hơn ít nhất 50%-80% so với tấm lợp AC và điều cơ bản là người tiêu dùng không chấp nhận sử dụng.

VI. Kiến nghị

Với những nội dung đã trình bày ở trên, Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam xin kiến nghị với Quý lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội, lãnh đạo các ban của Đảng, các Bộ, ban ngành Chính phủ, các Ủy ban Quốc hội, lãnh đạo các địa phương như sau:

6.1 Cần phân biệt sự khác biệt rõ ràng của sợi amiăng trắng với các loại sợi nhóm amphibole (amiăng nâu, xanh) về cấu trúc, tính chất và mức độ độc hại; Cần căn cứ vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam ngành tấm lợp AC đã tồn tại hơn 55 năm, đã cung cấp hàng tỷ m2 tấm lợp AC đang được sử dụng để lợp nhà, công trình phụ trợ, kho tàng ở trên khắp mọi miền đất nước, mà nhà lưu niệm nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng lợp bằng tấm lợp AC là một minh chứng; Cần tham khảo cơ sở khoa học và thực tiễn vì sao đến nay vẫn còn 139 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 6 tỷ người, trong đó có các nước G7, G20 như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á chưa cấm amiăng trắng? Cần phải suy nghĩ vì sao có những quốc gia đã từng cấm amiăng trắng nhưng sau đó đã rút lại lệnh cấm để có sự chỉ đạo đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam đối với các chính sách liên quan đến sử dụng amiăng trắng có điều kiện.

6.2 Xin kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo

a) Các Bộ, ban, ngành khi nghiên cứu xây dựng các đề án, chương trình, chính sách liên quan đến sử dụng amiăng trắng để sản xuất tấm lợp AC cần nắm rõ và tuân thủ các quy định của pháp luật về sử dụng amiăng trắng có điều kiện và tôn trọng quyền lợi của các doanh nghiệp sử dụng amiăng trắng để sản xuất tấm lợp AC.

b) Bộ Xây dựng nghiên cứu kỹ quan điểm của Bộ Tư pháp trong văn bản góp ý cho đề án của Bộ Xây dựng, tuân thủ quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và các quy định của Luật pháp khác; Nghiên cứu kỹ lưỡng, thấu đáo các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản: số 7232/VPCP-KGVX ngày 11/07/2017 về đánh giá tình hình sử dụng amiăng trắng trong sản xuất tấm lợp, đề xuất lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng phù hợp với việc tìm vật liệu tấm lợp thay thế, đáp ứng yêu cầu và khả năng chi trả của người dân; và các chỉ đạo trong các Văn bản số: 7772/VPCP-KGVX ngày 16/8/2018; Văn bản số: 8604/VPCP-KGVX ngày 08/9/2018; Văn bản số: 509/VPCP-KGVX ngày 17/01/2019 và các kiến nghị trong Báo cáo số: 1149/BC-UBKHCNMT14 để:

  • Dừng triển khai đề án “Lộ trình dừng sử dụng amiăng trắng để chấm dứt sản xuất tấm lợp amiăng từ năm 2023”;
  • Giải quyết dứt điểm các kiến nghị của Hiệp hội Tấm lợp Việt Nam và các doanh nghiệp sản xuất tấm lợp amiăng xi măng, tiếp tục cho phép sản xuất và sử dụng tấm lợp amiăng xi măng theo các quy định sử dụng amiăng trắng có điều kiện của pháp luật Việt Nam hiện hành.

c) Bộ Y tế không gắn việc cấm sử dụng amiăng trắng vào chương trình loại bỏ các bệnh liên quan đến amiăng.

– Giải thích, làm rõ những khuất tất trong việc yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường thay văn bản số 1087/BTNMT-TCMT ngày 15/05/2014 bằng văn bản số 2226/BTNMT-TCMT ngày 30/05/2014 (Xem văn bản gửi kèm) và dừng sử dụng cách làm tương tự, vì không minh bạch, không trung thực, thiếu cơ sở khoa học và pháp lý, vi phạm đạo đức nghề nghiêp, gây tổn hại vô cùng to lớn về kinh tế cho doanh nghiệp và công ăn việc làm của công nhân ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng.

d) Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập đoàn thanh tra để thanh tra kết quả áp dụng thực tế từ 2004 – 2018 của các đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KC-06 “Nghiên cứu thiết kế chế tạo và thử nghiệm dây chuyền sản xuất tấm lợp không amiăng năng suất 500,000 m2/năm và Dự án cấp nhà nước KC.03. DA 03/11-15 “Hoàn thiện công nghệ chế tạo dây chuyền sản xuất tấm sóng, tấm phẳng không amiăng năng suất 3 triệu m2/năm” báo cáo Thủ tướng Chính phủ một cách khách quan, công bằng.

6.3 Kiến nghị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội chỉ đạo: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, các nhà khoa học, khi góp ý, đề xuất, phản biện các chính sách liên quan đến amiăng trắng cần tuân thủ các quy định của luật pháp Việt Nam về kinh doanh amiăng trắng có điều kiện; Cần khoa học và khách quan khi nhìn nhận sự độc hại của amiăng trắng; Cần phải có các bằng chứng khoa học và thực tiễn;

6.4 Kiến nghị Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo các cơ quan truyền thông tuyên truyền trung thực để người dân hiểu đúng bản chất sự việc, tránh tuyên truyền không đúng bản chất sự việc, trái quy định của pháp luật gây hoang mang dư luận, làm thiệt hại đến công ăn, việc làm và kinh tế của ngành tấm lợp AC, ảnh hưởng đến kinh tế đất nước nhất là làm bất ổn chính trị xã hội.

6.5 Kiến nghị Chính phủ tiếp tục cho phép các doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được phép sử dụng amiăng trắng để sản xuất tấm lợp.

Xin trân trọng cảm ơn.

Nơi nhận

Như trên;

– Lưu: VP Hiệp hội.

TM BAN CHẤP HÀNH

CHỦ TỊCH

 

 

  

TS. Võ Quang Diệm

[1] http://www.wpro.who.int/vietnam/mediacentre/releases/2018/air_pollution_vietnam/en/?fbclid=IwAR1WD231C3JWgpAxmvyR1Tp0q4zI-g9yKg4Ua1EHcMzO3TeFDG4KwKHB3XE

[2] http://www.wpro.who.int/vietnam/mediacentre/releases/2018/who_calls_actions_tackle_harmful_use_alcohol/en/\

[3] http://gco.iarc.fr/today/data/factsheets/populations/704-viet-nam-fact-sheets.pdf

[4] http://vihema.gov.vn/hoi-thao-tap-huan-quoc-gia-phong-chong-cac-benh-bui-phoi.html

[5] https://www.who.int/occupational_health/WHO_health_assembly_en_web.pdf

[6] https://tuoitre.vn/18-000-chai-tuong-ot-chin-su-vi-sao-nhat-cam-viet-nam-cho-phep-2019040808063311.htm

[7] https://www.nytimes.com/2015/10/27/health/report-links-some-types-of-cancer-with-processed-or-red-meat.html

[8] https://www.nytimes.com/interactive/2015/10/26/health/meat-cancer-who-report.html

[9] https://www.ehn.org/pvc-plastic-chemical-make-us-fat-2570800586.html?rebelltitem=1#rebelltitem1

[10] https://www.facebook.com/trantuanrtccd/posts/10213883461975704

[11] Bernstein D., Hoskins J. A. (2005), “The health effects of chrysotile: Current perspective based upon recent data”.

[12] Nolan, R.P., Ross, M., Nord, G.L., Axten, C.W., Osleeb, J.P., Domnin, S.G., Price, B., and Wilson, R. (2005). Risk assessment for asbestos- related cancer from the 9/11 attack on the World Trade Center. J. Occup. Environ. Med. 47:817–825.


Bài mới hơn