An toàn và trách nhiệm trong sử dụng sợi amiăng trắng

Kết quả nghiên cứu do Bệnh viện Xây dựng – Bộ Xây Dựng công bố năm 2004 cho thấy mức độ nguy hiểm gây bệnh nghề nghiệp trong ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng ở Việt Nam rất thấp. Chỉ có 4 trường hợp được ghi nhận bị nhiễm bụi phổi amiăng ở thể nhẹ (chiếm 0,4%) trong 1032 phim chụp từ số công nhân trực tiếp tiếp xúc với amiăng chrysotile từ 2 năm đến 28 năm. Đây là tỷ lệ thấp hơn nhiều so với một số ngành công nghiệp khác (0,08%)

Amiăng (tiếng anh thường gọi asbestos) là tên thương mại dùng chung cho nhóm các loại sợi khoáng. Trên thực tế, sợi amiăng được chia thành hai nhóm chính: nhóm serpentine và nhóm amphibole. Amiăng chrysotile (amiăng trắng) thuộc nhóm serpentine có dạng xoắn, xốp mềm, được sử dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp tại hơn 100 quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Các loại sợi amiăng amosite, crocidolite, tremolite, actinolite, và anthophyllite đều thuộc nhóm amphibole (amiăng nâu và xanh) có dạng thẳng, hình kim và bị coi là nguyên nhân gây ra các bệnh về phổi.

Việt Nam đã cấm sử dụng amiăng amphibole dưới mọi hình thức từ năm 1998. Quyết định số 121/2008/QĐ – TTG của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng Việt Nam đến năm 2020” cũng cho phép sử dụng amiăng trắng (amiăng chrysotile) trong sản xuất tấm lợp, đồng thời các cơ sở sản xuất phải không ngừng đầu tư chiều sâu, hoàn thiện công nghệ, bảo đảm nghiêm ngặt các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường và y tế.

Năm 1986, 143 nước đồng lòng nhất trí với Công ước 162 được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) phê chuẩn về vấn đề “an toàn trong sử dụng sợi amiăng” cũng như các khuyến nghị về việc sử dụng có kiểm soát sợi chrysotile (amiăng trắng). Công ước cũng nêu rõ việc cấm sử dụng sợi amiăng thuộc nhóm amphibole và cho phép sử dụng sợi amiăng chrysotile với những quy định và tiêu chuẩn nhất định. Trong danh mục các loại thuốc trừ sâu và hóa chất công nghiệp bị cấm buôn bán hoặc hạn chế về vận chuyển bằng đường biển của Công ước Rotterdam cho đến năm 2008 không có chrysotile.

Thực ra, minh chứng về những ảnh hưởng của amiăng trắng đã thể hiện rất rõ ràng không chỉ trong Công ước 162 của ILO. Kết quả nghiên cứu từ 3 phòng thí nghiệm ở Thụy Sĩ, Đức, Mỹ chứng minh số ngày cần thiết để sợi amiăng chrysotile đào thải ra khỏi phổi là khoảng từ 0,3 – 11 ngày trong khi nhóm amphibole có chu kỳ bán rã từ 500 ngày trở lên, sợi ceramic (RCF 1) là 60 ngày, sợi aramid là khoảng 90 ngày và sợi cellulose là hơn 1000 ngày. Ngoài ra những thí nghiệm trên động vật cho thấy chrysotile nhanh chóng bị đào thải khỏi phổi sau khi hấp thụ (Bernstein và các cộng sự, 2003a,b, 2004, 2005a,b).

Kết quả nghiên cứu do Bệnh viện Xây dựng – Bộ Xây Dựng công bố năm 2004 cho thấy mức độ nguy hiểm gây bệnh nghề nghiệp trong ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng ở Việt Nam rất thấp. Chỉ có 4 trường hợp được ghi nhận bị nhiễm bụi phổi amiăng ở thể nhẹ (chiếm 0,4%) trong 1032 phim chụp từ số công nhân trực tiếp tiếp xúc với amiăng chrysotile từ 2 năm đến 28 năm. Đây là tỷ lệ thấp hơn nhiều so với một số ngành công nghiệp khác (0,08%) (http://chrysotile.com.vn/)

Kết quả khám bệnh và chụp phim của Bệnh viện Xây Dựng năm 2008 cho 564 công nhân ngành sản xuất tấm lợp amiăng xi măng không phát hiện các tổn thương liên quan đến amiăng chrysotile.

Tính đến thời điểm này, Việt Nam có khoảng 37 nhà máy sử dụng bình quân 60.000 tấn sợi chrysotile để làm tấm lợp fibro xi măng, tạo công ăn việc làm cho hơn 10.000 lao động. Tuy nhiên, việc sử dụng dây chuyền công nghệ lạc hậu vẫn còn tồn tại ở nhiều nhà máy gây phát tán bụi và ô nhiễm môi trường. Đây mới chính là mấu chốt của vấn đề liên quan đến sức khỏe con người mà các Bộ, Ban, Ngành liên quan cần có những hành động cụ thể để bảo vệ sức khỏe cho người lao động và các khu dân cư lân cận. Bởi vì, nguyên tắc sử dụng an toàn không chỉ được áp dụng cho mỗi ngành công nghiệp chrysotile mà cũng là nguyên tắc chung kiểm soát những nguy hại cho tất cả các sản phẩm và công nghệ có nguy cơ gây hại cho sức khỏe.

Phan Thanh
Theo Kinh tế đô thị


Bài mới hơn